- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Xuân H và Nguyễn Khánh H1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Xuân H về việc Kiện Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn đối với chị Nguyễn Khánh H1.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST Ngày 17/3/2022 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Hùng
2. Bà Đinh Thị Hạnh
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17/3/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2022/TLST- HNGĐ, ngày 08 tháng 02 năm 2022 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 07/3/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trịnh Xuân H, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Khánh H1, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
(Anh Trịnh Xuân H và chị Nguyễn Khánh H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Trịnh Xuân H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Nguyễn Khánh H1 vào ngày 23/11/2006. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, vợ chồng anh chị làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Sau ngày cưới vợ chồng anh chị về làm ăn và chung sống tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung luôn trong tình trạng căng thẳng. Nay, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H1.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Trịnh Minh H, sinh ngày 19/12/2007 và cháu Trịnh Minh Q, sinh ngày 19/12/2010. Khi ly hôn anh muốn giao cả hai cháu cho chị H1 nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 08/02/2022 chị Nguyễn Khánh H1 trình bày:
Về thời gian kết hôn và quá trình chung sống giữa chị và anh Trịnh Xuân H như anh H trình bày là đúng. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị xác định vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn vào năm 2019. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung luôn trong tình trạng căng thẳng. Quan điểm của chị H1 là tình cảm vợ chồng không còn chị nhất trí ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị H1 xác định quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Trịnh Minh H, sinh ngày 19/12/2007 và cháu Trịnh Minh Q, sinh ngày 19/12/2010. Khi ly hôn chị cũng đề nghị được quyền nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, đất đai, nợ chung: Chị H1 xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương phát biểu quan điểm: Toà án đã thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Xuân H, xử cho anh Trịnh Xuân H được ly hôn với chị Nguyễn Khánh H1. Giao cháu Trịnh Minh H, sinh ngày 19/12/2007 và cháu Trịnh Minh Q, sinh ngày 19/12/2010 cho chị Nguyễn Khánh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trịnh Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh H và chị H1 đều xác định không có nên không xem xét. Các đương sự phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Trịnh Xuân H và chị Nguyễn Khánh H1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giao nuôi con chung khi ly hôn, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Nguyễn Khánh H1 là bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, căn cứ khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương.
Anh Trịnh Xuân H và chị Nguyễn Khánh H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu ly hôn của anh Trịnh Xuân H, HĐXX nhận định: Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú của anh H và chị H1 xác định: Anh H và chị H1 kết hôn vào năm 2006. Sau khi kết hôn, anh chị làm ăn sinh sống tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đến năm 2019 vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn cãi chửi nhau. Bản thân anh H xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án, chị H1 cũng thừa nhận việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng và nhất trí ly hôn với anh Hiệp.
Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị H1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của anh H là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc giao nuôi con chung khi ly hôn, HĐXX nhận định: Qúa trình giải quyết ly hôn anh Trịnh Xuân H có quan điểm muốn giao cháu Trịnh Minh H, sinh ngày 19/12/2007 và cháu Trịnh Minh Q, sinh ngày 19/12/2010 cho chị Nguyễn Khánh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Khánh H1 cũng đề nghị được quyền nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Qúa trình xác minh tại địa phương thể hiện: Anh H và chị H1 có 02 con chung là cháu Trịnh Minh H, sinh ngày 19/12/2007 và cháu Trịnh Minh Q, sinh ngày 19/12/2010. Hiện nay các cháu đều đang ở cùng chị H1. Khi ly hôn theo đại diện của chính quyền địa phương thì nên giao cả hai cháu cho chị H1 nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế. Bản thân cháu Trịnh Minh H và cháu Trịnh Minh Q cũng đều thể hiện nguyện vọng muốn được ở cùng chị H1. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Trịnh Minh H, sinh ngày 19/12/2007 và cháu Trịnh Minh Q, sinh ngày 19/12/2010 cho chị Nguyễn Khánh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trịnh Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Anh H và chị H1 đều xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Anh Trịnh Xuân H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Khánh H1 không phải nộp án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trịnh Xuân H về việc Kiện Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn đối với chị Nguyễn Khánh H1.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trịnh Xuân H được ly hôn với chị Nguyễn Khánh H1.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trịnh Minh H, sinh ngày 19/12/2007 và cháu Trịnh Minh Q, sinh ngày 19/12/2010 cho chị Nguyễn Khánh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trịnh Xuân H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Trịnh Xuân H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001916 ngày 08 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Chị Nguyễn Khánh H1 không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - UBND thị trấn S; - Các đương sự; - Lưu VT- HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lê Tuấn Linh |