vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Mỹ C.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đinh Thị Mỹ Cvà ông Nguyễn Hải D ly hôn. Về con chung: Giao các con chung Nguyễn Ngọc Linh Đ sinh ngày 10/09/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên A sinh ngày 04/03/2017 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Đinh Thị Mỹ C và ông Nguyễn Hải D ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Mỹ C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M’ĐRẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 11 - 2022
“V/v: Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Giang, bà Bùi Thị Thêm.

- Thư ký phiên tòa: bà Võ Linh Nguyên, thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk.

Ngày 10tháng 11 năm 2022 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 143/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Đinh Thị Mỹ C sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Bà C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: ông Nguyễn Hải D sinh năm 1984. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 9, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Đinh Thị Mỹ C trình bày:

Bà Đinh Thị Mỹ C và ông Nguyễn Hải D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện M ngày 22/10/2009. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, ông D đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 01/2018 cho đến nay. Bà C đã tìm kiếm nhiều nơi, đến nay vẫn không có tin tức gì của ông D. Ngày 09/8/2022, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk đã tuyên bố ông D mất tích theo Quyết định số 02/2022/QĐST-VDS. Xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Cyêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hải D.

Về con chung: bà C và ông D có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Linh Đ sinh ngày 10/09/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên A sinh ngày 04/03/2017.Ông D đã mất tích nên bà C yêu cầu được nuôi cả 02 con đến khi con thành niên.

Về tài sản chung: bà Ckhông yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. HĐXX nhận định:

. Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết:

[1.1] Bà Đinh Thị Mỹ C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Hải Dcó nơi nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn 9, xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐDS-VDS ngày 09 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk đã tuyên bố ông Nguyễn Hải D mất tích. Quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên HĐXX giải quyết vắng mặt ông D.

. Về nội dung: bà C và ông D tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã E cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày22/10/2009. Hôn nhân giữa bà C và ông D là hợp pháp.Sau khi kết hôn, ông Dvà bà Cchung sống đến tháng 01/2018 ông D bỏ đi, đến nay không có tin tức gì. Như vậy, ông D và bà C đã không còn chung sống với nhau trong thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk đã tuyên bố ông D mất tích. Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giải quyết cho bà C được ly hôn với ông D.

Về nuôi con chung: Ông D đã mất tích nên cần giao các con chung Nguyễn Ngọc Linh Đ sinh ngày 10/09/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên A sinh ngày 04/03/2017 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Bà C không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Bà Đinh Thị Mỹ C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Hải D không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Mỹ C.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đinh Thị Mỹ Cvà ông Nguyễn Hải D ly hôn.

- Về con chung: Giao các con chung Nguyễn Ngọc Linh Đ sinh ngày 10/09/2012 và Nguyễn Ngọc Thiên A sinh ngày 04/03/2017 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

Ông Nguyễn Hải D được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng.

2. Về án phí: bà Đinh Thị Mỹ C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0009452 ngày 05/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M’Đrắk. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình.

3. Thông báo quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ