vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

* Căn cứ vào 147, 227, 228, 235, 246 Bộ luật tố tụng dân sự. * Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Hoàng H-Nguyễn Ngọc H3"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số : 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày : 31/05/2022
V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

* Các Hội thẩm nhân dân : Ông Đinh Gia Bảo

Ông Lê Quốc Tân

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Lê Thị Phương Thúy - CBTA

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa :

Ông Hỗ Hữu Nghĩa - KSV.

Hôm nay, ngày 31 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số : 299/2021/TLST-HNGĐ ngày 17/12/2021 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXX-ST ngày 25/04/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 20/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/05/2022 giữa các đương sự sau:

* Nguyên đơn : Chị Bùi Thị Hoàng H - Sinh năm 1994.

KHTT : 18 Nguyễn Thái H1- TT DK - Khánh Hòa.

ĐCLL : Tổ 11 - Thôn Cư T - Suối H2 - DK

( Có mặt )

* Bị đơn : Anh Nguyễn Ngọc H3 - Sinh năm 1984.

Trú tại : 18 Nguyễn Thái H1 - TT DK - Khánh Hòa.

( Vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN :

- Nguyên đơn chị Bùi Thị Hoàng H trình bày :

Tôi và anh Nguyễn Ngọc H3 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018 có làm đăng ký kết hôn tại UBND xã Suối H2 - DK. Vợ chồng tôi có 01 con chung là :

Nguyễn Bùi Mỹ T - Sinh ngày 30/12/2019.

Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân do tính tình hai bên không phù hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi nhiều việc và không có điểm chung, không có hạnh phúc. Bên cạnh đó kinh tế gia đình khó khăn từ khi dịch bệnh bùng phát nhưng anh H3 không quan tâm gì mà ăn nhậu bê tha, xúc phạm tôi nhiều lần. Tôi đã nhiều lần bỏ qua để tiếp tục sống nhưng anh H3 không thay đổi được cách sống, vẫn vô tâm và không lo lắng gì, hiện tại hai vợ chồng đã không còn sống chung từ tháng 06/2021 đến nay, anh H3 cũng không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, gia đình hai bên cũng khuyên nhủ nhưng không được, tôi xác định không còn tình cảm với anh H3 nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn.

Về con chung : Tôi xin nuôi cháu T và không yêu cầu anh H3 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung : Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định :

- Về thủ tục : Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Ngọc H3 đến tòa nhiều lần để giải quyết nhưng anh H3 vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục và đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất, tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Ngọc H3 vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật

-

- Về nội dung : Chị Bùi Thị Hoàng H và anh Nguyễn Ngọc H3 chung sống với nhau vào năm 2018 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Suối H2 - DK. Đây là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống chị H và anh H3 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị H xin ly hôn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa xét : Việc mâu thuẫn của chị H và anh H3 xảy ra do cách sống hai bên không phù hợp, theo chị H trình bày thì anh H3 không quan tâm gì đến gia đình, vợ chồng thường xuyên kình cãi nhiều việc trong cuộc sống và không có điểm chung. Hiện tại chị H và anh H3 đã không còn sống chung, tại biên bản xác minh ngày 03/03/2022 của Công an TT DK thì anh H3 có hộ khẩu tại địa chỉ trên và hiện nay vẫn làm ăn sinh sống tại địa phương nhưng khi Tòa án triệu tập thì anh H3 không đến tòa, điều này càng khẳng định rằng anh H3 cũng không quan tâm gì đến hạnh phúc gia đình. Do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

- Về con chung : Giao cháu Nguyễn Bùi Mỹ T sinh năm 2019 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết, nếu sau này có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

- Về tài sản chung : Anh H3 vắng mặt nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về án phí : Chị H phải chịu án phí HNGĐ/ST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên !

QUYẾT ĐỊNH :

* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

* Căn cứ vào 147, 227, 228, 235, 246 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử :

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Chị Bùi Thị Hoàng H được ly hôn anh Nguyễn Ngọc H3.

2/ Về con chung : Giao cháu Nguyễn Bùi Mỹ T - Sinh ngày 30/12/2019 cho chị Bùi Thị Hoàng H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Ngọc H3 đến khi nào chị H có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

Anh Nguyễn Ngọc H3 được quyền thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung : Anh Nguyễn Ngọc H3 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết và chị H xác nhận không có nợ chung.

4/ Về án phí : Chị Bùi Thị Hoàng H phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ/ST. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 7618 ngày 17/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DK.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ