vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các §iÒu 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh.

1- Tuyên xử: Cho anh Quàng Văn Q được ly hôn với chị Lò Thị L. 2 - Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của anh Quý, giao con chung là cháu Quàng Thị Linh Hương, sinh ngày 02/5/2012 và Quàng Thị Linh Hoa, sinh ngày 28/10/2015 cho anh Quý trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Quý không yêu cầu T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Văn Q - Lò Thị L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các §iÒu 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ B
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________
Bản án số: 21/2022/HNGĐ- ST.
Ngày: 07/4/2022.
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B – TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Lương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bạc Thị Kiên;

2. Bà Nguyễn Thị Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên .

Ngày 07/4/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2021/TLST – HNGĐ ngày 19/10/2021 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXX

- ST ngày 15/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2022/QĐST - HPT ngày 07/3/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Quàng Văn Q – Sinh năm 1989 "có mặt".

Nơi cư trú: Bản N T, xã P L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

2. Bị đơn: Chị Lò Thị L – Sinh năm 1992 " vắng mặt". Nơi cư trú: Bản N T, xã P L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 13/10/2021 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Đ B, anh Quàng Văn Q (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và cô Lan lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sam Mứn, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên ngày 28/02/2011. Trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Chúng tôi không còn quan tâm đến nhau, xét thấy tình cảm của tôi với cô Lan không còn, vì vậy tôi làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với cô Lan.

2. Về con chung: Anh Quý khai vợ chồng có 02 con chung là: Quàng Thị Linh Hương, sinh ngày 02/5/2012 và Quàng Thị Linh Hoa, sinh ngày 28/10/2015. Anh Quý có nguyện vọng xin được nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại bản tự khai ngày 18/01/2022 của cháu Hương có nguyện vọng được ở cùng với bố.

3.Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn Lò Thị L: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã gửi thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự, các đương sự đã nhận được thông báo của Tòa án, nhưng không có ý kiến gì. Sau đó Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật như: Thông báo cho các đương sự đến Tòa án để viết bản tự khai, cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu tại Tòa án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Những thủ tục thông báo này Tòa án đã gửi bảo đảm qua đường bưu điện theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng bị đơn không thực hiện và cũng không có ý kiến gì.

Tại đơn xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận của UBND xã P L đã xác định sau khi đăng ký kết hôn hai vợ chồng ở với nhau một thời gian, sau đó hai vợ chồng sống không hạnh phúc và sống ly thân nhau, chị Lan đã bỏ đi về nhà bố mẹ đẻ ở cùng bản. Còn anh Quý và 02 con vẫn ở nhà ở cùng bản.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 147/BLTTDS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Quý phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Anh Quý đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0004821 ngày 19/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật:

Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn anh Quàng Văn Q, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Quý xin ly hôn với chị Lan, chị Lan có hộ khẩu thường trú tại xã P L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ B theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39/BLTTDS năm 2015.

. Về điều luật áp dụng: Chị Lan và anh Quý kết hôn năm 2011, đến năm 2021 thì anh Quý khởi kiện xin ly hôn, nên Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị L và anh Quàng Văn Q lấy nhau có đăng ký kết hôn. Do vậy, hôn giữa hai người là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai người bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không thể chung sống với nhau và dẫn đến hai người sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Lan và anh Quý đang trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh Quý xác định tình cảm của mình đối với chị Lan không còn nữa, hai người không còn thể hiện sự quan tâm đến nhau. Tại phiên tòa anh Quý vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lan. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của đương sự và để giải phóng cho tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Quý và áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Lò Thị L và anh Quàng Văn Q.

. Về con chung: Hai vợ chồng có 02 con chung là cháu : Quàng Thị Linh Hương, sinh ngày 02/5/2012 và Quàng Thị Linh Hoa, sinh ngày 28/10/2015.

Anh Quý có nguyện vọng xin được nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Tại bản tự khai của cháu Hương cũng có nguyện vọng được ở cùng với bố.

Tại phiên tòa anh Quý có nguyện vọng muốn được nuôi con chung. HĐXX xét thấy nguyện vọng của anh Quý là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh Quý và giao con chung cho anh Quý trực tiếp chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quý không yêu cầu Tòa án giải quyết.

.Về tài sản:

. Tài sản riêng, tài sản chung, diện tích ruộng: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

. Nợ phải trả, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147/BLTTDS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Quý phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Anh Quý đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0004821 ngày 19/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.

Đối với bị đơn Lò Thị L: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã gửi thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự, các đương sự đã nhận được thông báo của Tòa án, nhưng chị Lan không có ý kiến gì. Sau đó Tòa án Thông báo cho các đương sự đến Tòa án để cung cấp tài liệu chứng cứ, yêu cầu tại Tòa án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Những thủ tục thông báo này Tòa án đã gửi bảo đảm qua đường bưu điện theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng bị đơn không có ý kiến gì và cũng không tham gia các phiên họp, hòa giải và phiên tòa do Tòa án tiến hành theo quy định của pháp luật, gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án và của đương sự khác. Điều này chứng tỏ bị đơn tự tước đi quyền, nghĩa vụ của mình trong thời gian giải quyết vụ án. Hơn thế nữa việc bị đơn không đến Tòa án theo giấy thông báo, triệu tập của Tòa án còn thể hiện bị đơn không tôn trọng Tòa án, không chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã gửi quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho các đương sự, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. HĐXX căn cứ Khoản 3 Điều 228/BLTTDS, Điểm b Khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Lò Thị L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 235, Điều 264 và Điều 267/BLTTDS;

- Áp dụng: Các §iÒu 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh.

1- Tuyên xử: Cho anh Quàng Văn Q được ly hôn với chị Lò Thị L.

2 - Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của anh Quý, giao con chung là cháu Quàng Thị Linh Hương, sinh ngày 02/5/2012 và Quàng Thị Linh Hoa, sinh ngày 28/10/2015 cho anh Quý trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Quý không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3- Về Tài sản: Không xem xét, giải quyết.

4- Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Quý phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Anh Quý đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0004821 ngày 19/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.

5- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính.

Cỡ chữ