vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phan Thị Kim V và anh Nguyễn Trung T. 2/ Về con chung: Giao con chung cháu Phan Nguyễn Phát L, sinh ngày 13/02/2016 cho chị V nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/02/2022
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN TRUNG TÍNH

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông TRẦN TRUNG NHÂN

2. Ông NGUYỄN PHƯỚC TƯỜNG

- Thư ký phiên Tòa: Bà PHẠM THỊ KIM LIÊU – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 15 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 326/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2021 về việc tranh chấp “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2021/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2021 và thông báo về việc mở lại phiên tòa số 04/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị PHAN THỊ KIM V, sinh năm 1991

Địa chỉ: ấp HĐ, xã HK, huyện CB, tỉnh TG.

*Bị đơn: Anh NGUYỄN TRUNG T, sinh năm 1992

Địa chỉ: ấp Kp, xã HK, huyện CB, tỉnh TG.

(Chị V có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Phan Thị Kim V trình bày:

Chị và anh T xác lập quan hệ vợ chồng năm 2013, không có đăng ký kết hôn do không am hiểu pháp luật, sau khi cưới về sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi nhau, anh T là đối tượng nghiện ma túy tại địa phương, chị nhiều lần khuyên can nhưng anh không bỏ, vợ chồng hàn gắn nhiều lần nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ năm 2016 đến nay. Nay chị xin ly hôn anh T.

+ Về con chung : Anh chị có 01 con chung tên Phan Nguyễn Phát L, sinh ngày 13/02/2016, khi ly hôn chị yêu cầu nuôi cháu L, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Trung T đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không cung cấp ý kiến đối với vụ kiện.

Tại phiên tòa chị V vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Anh Nguyễn Trung T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vắng mặt không lý do, căn cứ điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh là phù hợp theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân : Chị Phan Thị Kim V và anh Nguyễn Trung T chung sống với nhau từ năm 2013, do không am hiểu pháp luật nên không có đăng ký kết hôn. Theo lời chị V khai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và tự cắt đứt quan hệ vợ chồng từ thời gian đó đến nay, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không hợp tính tình, anh T là đối tượng nghiện ma túy ở địa phương, chị nhiều lần khuyên can nhưng anh không từ bỏ, vợ chồng nhiều lần hàn gắn đoàn tụ nhưng không thành nên đã ly thân từ năm 2016 đến nay, nay chị xin ly hôn anh T. Còn phía anh T vắng mặt không lý do, mặc dù đã được tòa án triệp tập hợp lệ nhiều lần thông báo về việc chị V xin ly hôn anh nhưng anh không cung cấp ý kiến lời khai đối với vụ kiện, chứng tỏ anh không còn quan tâm đến mối quan hệ vợ chồng giữa anh và chị V, đồng thời xem như anh tự từ bỏ quyền bảo vệ quyền và ích lợi của mình. Xét thấy chị V và anh T đã phát sinh mâu thuẫn kéo dài từ năm 2016 cho đến nay nhưng không hàn gắn đoàn tụ lại được, mặc khác trong thời gian chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay anh, chị không có đăng ký kết hôn là vi phạm điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị V và anh T là phù hợp theo quy định pháp luật.

[2] Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Phan Nguyễn Phát L, sinh ngày 13/02/2016. Tại phiên tòa chị V vẫn giữ yêu cầu tiếp tục nuôi cháu L. Xét thấy từ khi chị V và anh T ly thân, cháu L do chị V nuôi dưỡng đã ổn định, cháu vẫn phát triển tốt bình thường, do vậy hội đồng xét xử nhận thấy để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý của con chung và ổn định cuộc sống của cháu nên tiếp tục giao cháu L cho chị V nuôi là phù hợp theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V xác định đủ khả năng nuôi con, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Không có

[5] Về nợ chung: Không có

[6] Về án phí: Chị V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, 14, 15, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phan Thị Kim V và anh Nguyễn Trung T. 2/ Về con chung:

- Giao con chung cháu Phan Nguyễn Phát L, sinh ngày 13/02/2016 cho chị V nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Trung T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Trung T được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật. 3/ Về án phí:

Chị Phan Thị Kim V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000749 ngày 02/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CB nên xem như chị đã thi hành xong và không phải nộp tiếp.

Về quyền kháng cáo: Chị V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi Tòa án tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ