- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Giàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2021/HSST Ngày: 15/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Đức Thật.
Ông: Giàng A Lình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2021/TL-ST-HS, ngày 15 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo.
- Giàng Văn T: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1980; Nơi sinh: Xã Mường T, huyện Mường N, tỉnh Điện B; Nơi ĐKHKTT: Khu phố 07, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Giàng Văn H (đã chết) và con bà Khoàng Thị Đ, sinh năm 1945; Vợ: Lù Thị L, sinh năm 1978; Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, ngày 21/03/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Nậm N, tỉnh Lai C xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng được miễn trách nhiệm hình sự; Tiền sự: Không; Nhân thân đã bị xử lý; Bị bắt, bị tạm giữ từ ngày 17/6/2021 đến ngày 26/6/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.
- Người làm chứng:
+. Anh: Lò Văn T, sinh năm 1995 - Trú tại: khu phố 7, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.
+. Chị: Lò Thị H, sinh năm 1972 - Trú tại: khu phố 1, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ ngày 16/6/2021, Giàng Văn T đi bộ từ khu phố 7 đến cây xăng Bảo T thuộc khu phố 1, thị trấn Mường T thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt, qua trao đổi, T mua được của người đàn ông này 05 (năm) gói Heroine được bọc bằng tờ giấy vé số kiến thiết Lai C với giá 500.000 đồng (trong đó: 04 gói Heroine đều được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, trắng; 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong được gói bằng lớp nilon màu hồng và 03 viên Methamphetamine ), sau đó T cầm trên tay trái và đi bộ vào nhà Lò Thị H ở khu phố 1, thị trấn Mường T và nói với H “Em lên cơn ma túy quá, chị cho em chơi ở đây một tí” nhưng H không đồng ý và đuổi T về, nhưng T cố tình ngồi lại rồi lấy gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong được gói bằng lớp nilon màu hồng cất vào trong túi áo ngực bên trái, tiếp theo T lấy 03 viên Methamphetamine ra 01 viên, dùng 01 chiếc bật lửa ga màu trắng và 01 mảnh giấy bạc rồi sử dụng (hít), trong lúc sử dụng ma túy thì có Lò Văn T đi vào hỏi mua ma túy với T nhưng T nói không có ma túy để bán. Đến hồi 22 giờ 30 phút cùng ngày 16/06/2021, khi T đang sử dụng ma túy, thì bị tổ công tác Công an huyện Mường T phát hiện bắt quả tang , tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định tư pháp số: 70/KLGĐ ngày 17/6/2021 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C đã kết luận: Tổng khối lượng chất bột khô, màu trắng thu giữ của Giàng Văn T là 1,63 gam; Tổng khối lượng viên nén màu hồng thu giữ của Giàng Văn T là 0,33 gam.
Tại kết luận giám định số: 517/GĐ-KTHS ngày 22/06/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 02 (hai) mẫu viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine; 05 (năm) mẫu chất bột khô, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 77/CT-VKS-MT ngày 14 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T truy tố Giàng Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- Trách nhiệm hình sự: Đối với Giàng Văn T về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50, điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Văn T từ: 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 1,12 gam Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định; 02 (hai) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) mảnh giấy vé số kiến thiết Lai Châu, 02 (hai) mảnh giấy màu trắng, 04 (bốn) mảnh giấy bạc màu vàng trắng, 01 (một) mảnh giấy bạc và 01 (một) chiếc bật lửa ga màu trắng của Giàng Văn T.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị, bị cáo không có ý kiến gì để tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 16/06/2021, tại nhà của Lò Thị H ở khu phố 1 thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C, Giàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,96 gam ma túy (bao gồm: 1,63 gam Heroine và 0,33 gam Methamphetamine) mục đích là để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Giàng Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân bị cáo Giàng Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 5/12, lớn lên ở nhà tham gia lao động làm nghề tự do, bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 1,12 gam Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định; 02 (hai) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) mảnh giấy vé số kiến thiết Lai Châu, 02 (hai) mảnh giấy màu trắng, 04 (bốn) mảnh giấy bạc màu vàng trắng, 01 (một) mảnh giấy bạc và 01 (một) chiếc bật lửa ga màu trắng của Giàng Văn T.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Giàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Giàng Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử lý vật chứng; Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Về án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông dân tộc H’Mông lạ mặt đã bán ma túy với giá 500.000 đồng cho bị cáo Giàng Văn T. Trong qua trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [11]. Đối với Lò Thị H, khi T vào nhà xin sử dụng ma túy, H không đồng ý, hành vi của H không có yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường T không xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Giàng Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Văn T: 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày, kể từ ngày 17/06/2021 đến ngày 26/06/2021.Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 1,12 gam Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định; 02 (hai) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) mảnh giấy vé số kiến thiết Lai Châu, 02 (hai) mảnh giấy màu trắng, 04 (bốn) mảnh giấy bạc màu vàng trắng, 01 (một) mảnh giấy bạc và 01 (một) chiếc bật lửa ga màu trắng của Giàng Văn T.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Giàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện M.Tè; - Công an huyện M.Tè; - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè; - Trại tạm giam; - Chi cục THADS huyện M.Tè; - Bị cáo; Người làm chứng; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |