vanban.org

Bản án 21/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 12/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thành Đ phạm tội VPQD ATGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƢNG
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 21/2021/HSST
Ngày: 12/4/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đình Cự.

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thuận Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông

Hưng

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến -

Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái

Bình đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/HSST ngày 15/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST- HS ngày 01/4/2021 đối với bị cáo:

Vũ Thành Đ, sinh ngày 09/4/1998. Tại: thôn Qu, xã X, huyện Đông Hưng,

tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn Qu, xã X, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vũ Văn Th, sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị G, sinh năm 1975; Chưa có vợ;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Không;

Nhân thân:

Được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 12/12 sau đó lao động tự do tại xã X.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị can tại

ngoại.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

-

Bị hại:

Chị Bùi Thị Y, sinh năm 1978 (đã chết do tai nạn giao thông)

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Vợ chồng chị Y đã ly hôn - Bố chị Yến đã chết)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

- Bà Đào Thị D, sinh năm 1936 (mẹ đẻ chị Y)

- Anh Đỗ Hồng M, sinh năm 2000. (con chị Y)

Địa chỉ: Thôn T, xã Đg, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Người được bà D và anh M ủy quyền tham gia tố tụng:

Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đg, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

( Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1-Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1999

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

2- Chị Vũ Thị D, sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn H, xã Đg, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

( Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thành Đ có giấy phép lái xe hạng A1 số 340175002756 do Sở giao thông

vận tải Thái Bình cấp ngày 27/6/2017. Khoảng 19 giờ ngày 17/11/2020, sau khi tan ca làm tại công ty Gateway có trụ sở tại khu công nghiệp Gia Lễ, xã X, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Đ rủ bạn cùng công ty là anh Nguyễn Đình T về nhà mình ăn cơm. Đến 21 giờ cùng ngày, T và Đ rủ nhau đi chơi game ở quán nét “T Gaming” cạnh quốc lộ 10 thuộc xã X, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đ lấy xe mô tô Sirius biển kiểm soát 17B3-326.91 của Đ, chở T ngồi phía sau, đi từ nhà ở thôn Qu ra quốc lộ 10 và điều khiển xe đi ở bên phải đường theo hướng Thái Bình đi Hải Phòng. Khi đến gần quán Net, thấy xe sắp hết xăng nên Đ điều khiển xe đi về phía cây xăng Sông Vân phía trước, ở bên trái đường để đổ xăng. Đi đến khu vực ngã tư xã Đg – X, Đ điều khiển xe sang đường và đi vào khu vực hành lang giao thông bên trái theo chiều Thái Bình đi Hải Phòng. Khu vực hành lang này có chiều rộng 20m00, mặt đường được rải đá nhựa, Đ điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 45-50km/h và cách mép quốc lộ 10 khoảng hơn 5m. Mặt đường Quốc lộ phía bên ngoài được rải đá nhựa áp phan bằng phẳng chia làm hai làn đường, làn đường bên phải theo chiều Hải Phòng đi Thái Bình rộng đo 5m50, làn đường bên trái rộng 5 m40, phân chia giữa hai làn đường là vạch sơn đứt quãng. Lúc này trời tối, mặt đường khô ráo, không có đèn đường chiếu sáng. Khi điều khiển xe đi ngược chiều cách Ngã tư xã Đg – X được khoảng 20 mét, Đ quay đầu lại để nói chuyện với anh T; lúc này phía trước ngược chiều đi của Đ có chị Vũ Thị D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 17K7-1646, chở sau là chị Bùi Thị Y đi từ khu vực vui chơi Vân Thơm (cạnh cây xăng Sông Vân) đầu xe mô tô của chị D điều khiển hướng ra quốc lộ 10 để đi về nhà, khi đi đến trước cửa quán Anh Em Quán. Do Đ không chú ý quan sát, đi không đúng chiều đường bên phải đi của mình, khi còn cách xe chị D khoảng 07 đến 08m, Đ không kịp xử lý nên phần đầu bánh xe phía trước bên trái xe mô tô của Đ đã va chạm với phần bánh xe phía trước bên phải xe mô tô do chị D điều khiển, làm người và xe của chị D đổ tỳ thành trái xuống đường, xe của Đ và người cũng đổ tỳ thành trái xuống đường. Hậu quả chị Bùi Thị Y bị thương vùng đầu được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình, và chết hồi 5 giờ 47 phút ngày 19/11/2020 tại gia đình. Chị D, Đ và anh T bị thương nhẹ.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 259/PY-PC09 ngày 23/11/2020

của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:

Nạn nhân Bùi Thị Y bị đa chấn thương vùng đầu, tay, chân do tai nạn giao

thông làm vỡ xương sọ vùng đỉnh-chẩm, chảy máy não, chết do chấn thương sọ não.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSĐH ngày 04/3/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Vũ Thành Đ - Về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguY quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị tuY bố bị cáo Vũ Thành Đ – Phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai bá o hà nh vi phạ m tô;̣ i ăn năn, hối cải; Bị cáo tự nguyện bồi thường, Đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáođượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ quy đị nh tạ i điể mb, s Khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

Đề nghị áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; 65; Điểm b,s Khoản 1 và 2

Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thành Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo với đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ giáo dục và cải tạo bị cáo.

+Về vật chứng và tài sản thu giữ:

Đề nghị : Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật

hình sự.

Trả lại cho bị cáo Vũ Thành Đ một giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số

340175002756 .

+Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo và Đại diện hợp pháo của bị hại đã thoả thuận bồi thường và đã bồi thường

xong với số tiền 100.000.000 đồng và không có yêu cầu nào khác. Do đó không đặt ra giải quyết trong vụ án.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội D của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I[ Về tố tụ ng:

Trong quá trì nh điề u tra, truy tố cá c Điề u tra viên, Kiể m sá t viên đã tiế n hà nh thu thậ p cá c tà i liệ u, chứ ng cứ theo đú ng cá c quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sư. Bị cáọ , Bị hại; Đại diện hợp pháp của Bị hại, Ngườ i có quyề n lợ i va nghĩa vụ liên quan không có̀ khiế u nạ i, tố cá o. Do đó cá c tà i liệ u, chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n là hợ p pha. ́ p

[II] Về nộ iD:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vũ Thành Đ đã khai nhận:

Khoảng 21 giờ cùng ngày, T và Đ rủ nhau đi chơi game ở quán nét “T Gaming”

cạnh quốc lộ 10 thuộc xã X, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Đ lấy xe mô tô Sirius của Đ ( D tích xi lanh 110cm3) chở T ngồi phía sau. Khi đến gần quán Net, thấy xe sắp hết xăng nên Đ điều khiển xe đi về phía cây xăng Sông Vân phía trước, ở bên trái đường để đổ xăng. Đi đến khu vực ngã tư xã Đg – X, Đ điều khiển xe sang đường và đi vào khu vực hành lang giao thông bên trái theo chiều Thái Bình đi Hải Phòng. Khu vực hành lang này có chiều rộng 20m, mặt đường được rải đá nhựa, Đ điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 45-50km/h và cách mép quốc lộ 10 khoảng hơn 5m. Khi điều khiển xe đi ngược chiều cách Ngã tư xã Đg – X được khoảng 20 mét, Đ quay đầu lại để nói chuyện với anh T; lúc này phía trước ngược chiều đi của Đ có chị Vũ Thị D, điều khiển xe mô tô chở sau là chị Bùi Thị Y đi từ khu vực vui chơi Vân Thơm (cạnh cây xăng Sông Vân) đầu xe mô tô của chị D điều khiển hướng ra quốc lộ 10 để đi về nhà, khi đi đến trước cửa quán Anh Em Quán. Do Đ không chú ý quan sát, đi không đúng chiều đường bên phải đi của mình, khi còn cách xe chị D khoảng 07 đến 08m, Đ không kịp xử lý nên phần đầu bánh xe phía trước bên trái xe mô tô của Đ đã va chạm với phần bánh xe phía trước bên phải xe mô tô do chị D điều khiển, làm người và xe của chị D đổ tỳ thành trái xuống đường, xe của Đ và người cũng đổ tỳ thành trái xuống đường.

Lời khai của bị cáo Vũ Thành Đ phù hợp Biên bản hiện trường và biên bản khám

nghiệm phương tiện do Công an Đông Hưng lập cụ thể:

Được quy định theo chiều Hải Phòng đi Thái Bình. Xe mô tô biển kiểm soát

17K7-1646 đổ nghiêng tỳ thành trái xuống đường, đầu xe hướng đi Hải Phòng và gần vuông góc với mặt quốc lộ 10, trục bánh trước cách mép đường Quốc lộ 10: 5m70; trục bánh sau cách mép quốc lộ 10: 6m80; xe mô tô biển kiểm soát 17B3-326.91 đổ nghiêng tỳ thành trái xuống đường, đầu xe hướng đi Hải Phòng và hơi xiên vào mép đường Quốc lộ 10, trục bánh trước cách mép đường Quốc lộ 10: 5m40, trục bánh sau cách mép quốc lộ 10: 6m60 mét và hơi xiên vào mép quốc lộ 10. Hiện trường để lại 1 vết máu kích thước (0,34 x 0,25)m và 4 vết cà mặt đá nhựa đều có chiều Thái Bình đi Hải Phòng.

- Khám nghiệm phương tiện, xe mô tô biển kiểm soát 17B3-326.91: Tại mặt

lăn và phần tiếp giáp với má lốp bên trái bánh trước, vị trí tương ứng hàng chữ ROTATION có vết trượt mất đất cát, trượt xước cao su hướng từ má lốp bên trái sang mặt lăn, vết đo (26 x 5)cm. Càng bánh trước bị cong vặn từ trái sang phải, tại đầu dưới càng bánh trước bên trái có dấu vết trượt xước mất sơn màu ghi xước vẹt kim loại hướng từ sau về trước, từ trái sang phải, vết đo (1,2 x 0,8) cm; vị trí thấp nhất của vết cách đất 25cm. Nứt vỡ nhựa đầu trên cánh yếm bên trái, mặt ngoài ½ phía trên rải rác có các dấu vết trượt xước sơn nhựa, bám dính đất cát. Đầu ngoài tay nắm lái bên trái, đầu ngoài phía trước cần dậm số, đầu ngoài giá để chân trước bên trái có dấu vết trượt xước nhựa, xước cao su, xước kim loại, bề mặt bám dính bột đá và đất cát.

Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 17K7-1646: Má lốp bên phải bánh

trước tương ứng hàng số 225-17 có dấu vết trượt mất đất cát, trượt xước cao su hướng từ ngoài vào tâm, vết đo (40 x 6) cm. Tương ứng vết này vào trong cạnh vành có vết trượt mất đất cát, miết bờ mặt hướng từ ngoài vào tâm, vết đo (32 x 1,1) cm. Tại đầu ngoài bên phải trục trước có dấu vết trượt xước kim loại hướng từ trên xuống dưới, bờ mặt bám dính tạp chất màu ghi dạng sơn, vết đo (1 x 0,5) cm, càng bánh trước bị cong vặn từ phải sang trái. Cần gương chiếu hậu bên trái bị đẩy xoay từ trước về sau, từ trái sang phải, mặt trước cần gương có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính bột đá. Đầu ngoài tay nắm lái bên trái, đầu ngoài giá để chân trước bên trái có dấu vết trượt xước kim loại, xước cao su, bề mặt bám dính bột đá và đất cát. Qua Biên bản hiện trường thể hiện bị cáo Đ điều khiển xe mô tô đi hoàn toàn bên hành lang đường bên trái theo chiều đi của Đ.

Qua hiện trường để lại thấy khu vực xảy ra tai nạn đều nằm ở phần hành lang đường bộ phía bên trái theo chiều đi của xe mô tô do Đ điều khiển, điểm tai nạn cách mép đường bên trái ( Chiều Thái Bình đi Hải Phòng) ở khoảng cách mép đường bên trái từ 5,4 mét đến 6,8 mét.

Như vậy khi điều khiển xe mô tô Đ đã vi phạm vào Khoản 1 Điều 9 Luật giao

thông đường bộ quy đinh về quy tắc chung khi tham gia giao thông quy định:

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Cùng với lời khai của anh T, chị D là người trực tiếp đi cùng xe với bị cáo Đ và chị

Y là người điều khiển xe mô tô chở sau là chị Y và bản kết luận giám định, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Thành Đ đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn

giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề

hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi của bị cáo Vũ Thành Đ là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến an toàn công cộng và trật tự công cộng gây hậu qur làm chị Y bị chết.

[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:

Với hậu quả làm chết một người thì hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thành Đ thuộc trường hợp nghiêm trọ ng.

[3]+Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]+Tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; ăn năn, hối cải; Bị cáo tự nguyện bồi thường để khắc phục hậu quả, Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiế t giả m nhẹ quy đinh tạ ̣ i điể m b, s Khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự. Do đó, xử phạt bị cáo Đ với mức hình phạt như Viện Kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo và Đại diện hợp pháo của bị hại đã thoả thuận bồi thương 100.000.000 đồng

và không có yêu cầu Toà án phải giải quyết về phân trách nhiệm dân sự. Do đó không đặt ra giải quyết trong vụ án.

Anh T, chị D sau tai nạn có bị thương nhẹ, anh T, chị D không có yêu cầu bồi

thường nên không đặt ra giải quyết trong vụ án.

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy không cần thiết phải tước giấy phép lai xe cảu Đ. Do đó, Trả lại cho bị cáo Đ một giấy phép lái xe mô tô hạng A1.

[7] Về án phí:

Bị cáo Vũ Thành Đ phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có

quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

TuY bố : Bị cáo Vũ Thành Đ - Phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao

thông đường bộ”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; 65; Điểm b,s Khoản 1 và 2 Điều 51

của Bộ luật Hình sự .

+Xử phạt bị cáo Vũ Thành Đ 01(một) năm 06(sáu)tháng tù, cho höôûng aùn treo,

thôøi gian thöû thaùch laø 03 năm. Thôøi gian thöû thaùch tính töø ngaøy tuyeân aùn sô thaåm ( 12/4/2021). Giao bò caùo cho UÛy ban nhaân daân xã X, huyện Đông Hưng, tỉnh Thaùi Bình nôi bò caùo cö truù giaùm saùt, giaùo duïc trong thôøi gian thöû thaùch. Trong thôøi gian thöû thaùch neáu bò caùo thay ñoåi nôi cö truù, thì thöïc hieän theo quy của Luaät thi haønh aùn hình söï.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Vũ Thành Đ vi phạm nghĩa vụ theo luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đ phải thi hành hình phạt tù thời hạn là 01(một) năm 06(sáu)tháng tù.

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Trả lại cho bị cáo Đ một giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 340175002756 do Sở giao thông vận tải Thái Bình cấp ngày 27/6/2017.

[4] Về án phí:

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban

thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Vũ Thành Đ phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có

quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với người có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuY án sơ thẩm; Đối với người vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày tống Đ hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ