vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tuyên án 19/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ VănH phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ VănH: 07 (Bẩy) tháng tù, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của Bản án số 38/2020/HSST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho của 02 bản án là 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn H đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ VănH phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS-ST
Ngày:19-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông An Văn Khoái.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Đình Phúc.

Ông Nguyễn Ngọc Nghiêm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn VănH -Thư ký Toà án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: BàNguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương. Toà án nhân dân huyện T M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021đối vớibị cáo:

Vũ VănH, sinh năm 1988 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn PK, xã CLB, huyện T M, tỉnh Hải Dương;nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịnh: Việt Nam; Con ông Vũ Văn P và bà Ngô Thị T; Có vợ là Vũ Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 24/6/2020, Vũ VănH bị Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/01/2021 đến ngày 23/01/2021 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Anh Bùi Quốc Hưng,sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn Phù Tải I, xã Thanh Giang, huyện T M, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Bùi Duy Tiến,sinh năm 2002

Địa chỉ: Thôn Phù Tải I, xã Thanh Giang, huyện T M, tỉnh Hải Dương.

Những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ VănH thuê quán của chị Trương Thị T, sinh năm 1978 ở thôn PK, xã CLB, huyện T M, tỉnh Hải Dương để mở quán cắt tóc “Hùng Hoa” và bán số lô, số đề. Khoảng 17 giờ ngày 20/01/2021,H đang ở quán cắt tóc thì có 01 người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến mua các số đề 11, 111 mỗi số 500.000 đồng, thành tiền là 1.000.000 đồng.H đồng ý và ghi số đề vào quyển sổ gọi là “bảng đề” và ghi vào mảnh giấy nhỏ gọi là “cáp đề”, rồi đưa “cáp đề” cho người đàn ông này, thu số tiền 1.000.000đồng. Sau đó, có 01 người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến mua số đề 32, giá 30.000 đồng và số lô 32 x 5 điểm, mỗi điểm 20.000 đồng, thành tiền là 130.000 đồng,H khuyến mại 5.000đồng, do đó người đàn ông này phải thanh toán là 125.000đồng.H ghi vào “bảng đề”, ghi “cáp đề”, rồi đưa “cáp đề” cho người đàn ông này, thu số tiền 125.000 đồng. Một lúc sau, có 2 người nam giới tên là Mạnh và Toàn (không rõ họ, tuổi, địa chỉ) đến, Mạnh mua số đề 89, 23, mỗi số 30.000 đồng, thành tiền là 60.000đồng và số lô 89, 23, 68, mỗi số 10 điểm, thành tiền là 600.000đồng. Toàn mua số đề 14, 24, mỗi số giá 60.000 đồng, thành tiền là 120.000đồng và số lô 72, 76, mỗi số 10 điểm, thành tiền là 400.000đồng. Mạnh và Toàn chưa thanh toán tiền, hẹn đến ngày hôm sau sẽ đến trả tiền cho H.H đồng ý, ghi vào “bảng đề” và “cáp đề” rồi đưa “cáp đề” cho Mạnh, Toàn. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, Bùi Quốc Hưng, sinh năm 1998 và Bùi Duy Tiến, sinh năm 2002, đều trú tại thôn Phù Tải 1, xã Thanh Giang, huyện T M đến, Tiến mua số lô 89, 98, mỗi số 50 điểm, thành tiền là 2.000.000đồng và số lô 06, 60 mỗi lô 25 điểm, thành tiền là 1.000.000đồng.H thu của Tiến 3.000.000 đồng và ghi số lô, đề vào “bảng đề”, ghi “cáp đề” rồi đưa “cáp đề” cho Tiến. Hưng mua số đề 29, 92, mỗi số 100.000 đồng, thành tiền là 200.000đồng và số lô 29, 92 mỗi số 50 điểm, thành tiền là 2.000.0000 đồng.H thu của Hưng số tiền 2.200.000đồng nhưng chưa kịp ghi vào “bảng đề” và “cáp đề” thì bị lực lượng Công an huyện T M bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 vở dòng kẻ ngang kích thước (210x297)cm bên trong có ghi các chữ và số tự nhiên, 01 thước kẻ dài 30cm, 01 kéo kim loại, 01 bút bi mực đen, 01 bút bi mực đỏ, thu trên ngườiH số tiền 11.600.000 đồng, thu giữ trên người Tiến 01 mảnh giấy kích thước (3x5)cm trên mặt giấy có viết các chữ và số tự nhiên.

Tại bản Kết luận giám định số 14 ngày 10/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Các chữ viết, chữ số trên các tài liệu giám định (ký hiệu A2) (là quyển sổ giáo án) với chữ viết, chữ số trên các tài liệu mẫu so sánh (đứng tên Vũ VănH) là do cùng một người viết ra.

Đánh bạc dưới hình thức đánh số lô, số đề là căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng hàng ngày: Số đề hai số là người chơi chọn mua hai chữ số tự nhiên bất kỳ với số tiền nhất định. Số đề 2 số được so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng nhau nghĩa là người mua thắng và được trả gấp 70 lần số tiền đã mua; nếu người mua thua thì mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra. Số lô gồm 2 số tự nhiên bất kỳ, người chơi mua được so sánh với 2 số cuối của tất cả các giải; nếu số lô người chơi mua trùng với 2 số cuối của bất kỳ một trong các giải của kết quả xổ số thì mỗi điểm lô người mua được trả 70.000 đồng; nếu người mua thua thì mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra.

Quá trình điều tra xác định: Bùi Duy Tiến dùng 3.000.000 đồng, Bùi Quốc Hưng dùng 2.200.000 đồng, Mạnh dùng 660.000đồng, Toàn dùng 520.000đồng, 02 người đàn ông (cả 4 người đều không rõ tên, tuổi, địa chỉ) dùng 1.130.000đồng để đánh bạc vớiH. Tổng số tiền bị can Vũ VănH dùng để đánh bạc là 7.510.000đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 02/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Vũ VănH về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, giữ nguyên nội dung truy tố tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 2 Điều 52; các Điều 38, 47, 55, 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng của án phí, lệ phí Tòa án.

-Về tội danh: Đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Vũ VănH phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ VănH từ 07 - 09 tháng tù, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của Bản án số 38/2020/HSST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là từ 22- 24 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/01/2021.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

-Về xử lý vật chứng:

+ Số tiền thu giữ của bị cáo 11.600.000 đồng gồm 7.510.000 đồng là tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại 4.090.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục bảo thủ để thi hành án.

+ Đối với 02 (hai) bút bi, 01 (một) thước kẻ, 01 (một) kéo bằng kim loại là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

2. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép của mình và đề nghị cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về nhiệm vụ quyền hạn của mình, các hành vi và quyết định tố tụng đều có căn cứ và phù hợp đảm bảo quyền, nghĩa vụ của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 20/01/2021, tại quán cắt tóc “Hùng Hoa” do Vũ VănH thuê của chị Trương Thị Thoa, sinh năm 1978 ở thôn PK, xã CLB, huyện T M, tỉnh Hải Dương,H đánh bạc với hai người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) số tiền là 1.130.000đồng, Mạnh (không rõ họ, tuổi, địa chỉ) số tiền 660.000đồng, Toàn (không rõ họ, tuổi, địa chỉ) số tiền 520.000đồng, Bùi Duy Tiến, sinh năm 2002, trú tại thôn Phù Tải 1, xã Thanh Giang, huyện T M số tiền 3.000.000 đồng và Bùi Quốc Hưng, sinh năm 1998, trú tại thôn Phù Tải 1, xã Thanh Giang, huyện T M số tiền 2.200.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện T M bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng số tiềnH sử dụng để đánh bạc là 7.510.000đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội là khách thể được bộ luật Hình sự bảo vệ.Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo dưới hình thức ghi số lô, số đề với số tiền 7.510.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội“Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi xem xét, quyết định hình phạt, Tòa án thấy:

- Bị cáo không có tiền sự; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngày 24/6/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T M xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù treo của bản án trên nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên cần có một hình phạt nghiêm là phạt tù có thời hạn và cộng với hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 38/2020/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T M. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 55, 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Hành vi đánh bạc của bị cáo là đơn giản, số tiền đánh bạc không lớn, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Số tiền thu giữ của bị cáo 11.600.000 đồng gồm 7.510.000 đồng là tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại 4.090.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục bảo thủ để thi hành án. Thiếu bị cáo phải nộp thêm, còn thừa sẽ trả lại cho bị cáo.

+ Đối với 02 (hai) bút bi, 01 (một) thước kẻ, 01 (một) kéo bằng kim loại là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với hành vi của Bùi Duy Tiến, Bùi Quốc Hưng đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện T M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số đối với Tiến, Hưng là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định, chị Trương Thị Thoa, sinh năm 1978 ở thôn PK, xã CLB, huyện T M, tỉnh Hải Dương cho bị cáoH thuê địa điểm để mở quán cắt tóc, chị Thoa không biết bị cáoH bán số lô, đề nên không có căn cứ để xử lý chị Thoa là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 47, 55, 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng của Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ VănH phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt: Bị cáo Vũ VănH: 07 (Bẩy) tháng tù, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của Bản án số 38/2020/HSST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện T M, tỉnh Hải Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho của 02 bản án là 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/01/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.510.000 đồng (Bẩy triệu năm trăm mười ngàn đồng).

- Trả lại bị cáo Vũ VănH số tiền 4.090.000 đồng nhưng tiếp tục bảo thủ để thi hành án. Thiếu bị cáo phải nộp thêm, còn thừa sẽ trả lại cho bị cáo.

- Tịch thu cho tiêu hủy 02 (hai) bút bi, 01 (một) thước kẻ, 01 (một) kéo bằng kim loại.

Số tiền và vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T M và có đặc điểm như trong biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T M, tỉnh Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự huyện T M, tỉnh Hải Dương.

4. Về án phí: Bị cáo Vũ VănH phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ