vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/7/2021. Giao bị cáo Phạm Văn S cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS - ST
Ngày: 21 - 7 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Luận và bà Bùi Thị Quy.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2021, tại Nhà văn hóa khu Nhân Đào, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2021/TLST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2021/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn S, sinh năm 1979 tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu L, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12.; con ông Phạm Văn Th và bà Nguyễn Thị T (đã chết); vợ là Vũ Thị Đ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Đinh Thành C, sinh ngày 28/9/2002; nơi cư trú: Thôn B, xã N1, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

* Những người đại diện theo pháp luật của bị hại:

Ông Đinh Văn D, sinh năm 1969 và bà Trần Thị N, sinh năm 1975; đều trú tại: Thôn B, xã N1, huyện N, tỉnh Hải Dương – là bố mẹ đẻ của anh C. Đều vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Anh V, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T1, phường T2, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Anh Lại Văn L, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã N1, huyện N, tỉnh Hải Dương.

- Ông Vương Đình S1, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn S làm nghề lái xe, có Giấy phép lái xe ô tô hạng C số 300086306376 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 02/3/2020, có giá trị đến ngày 02/3/2025. Sáng ngày 08/6/2020, S điều khiển xe ô tô BKS: 89C-112.38, loại xe tải có mui, có tải trọng 4990 kg, trên xe có anh Nguyễn Anh V ngồi ghế phụ bên phải đi từ thành phố H, tỉnh Hải Dương đến khu vực cầu C, huyện L, tỉnh Bắc Giang để mua cá về bán. Khoảng 11 giờ cùng ngày, sau khi mua cá xong, S điều khiển xe ô tô đi về thành phố H, tỉnh Hải Dương, anh V ngồi ở ghế phụ. S điều khiển xe ô tô đi theo đường Quốc lộ 37 rồi rẽ vào đường mới (đường nối Quốc lộ 37 với cầu H) để đi sang thành phố H (chiều xã Q – xã H1, huyện N), tại đây có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Khoảng 11 giờ 55 phút, khi đi đến ngã tư giao với đường Tỉnh lộ 390 thuộc địa phận thôn T, xã N1, huyện N (có mặt đường rộng 17,40m được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng; bên phải mép đường hướng đi cầu H có lối mở đi xã H1 rộng 65m; bên trái mép đường hướng cầu H đi thị trấn N2 có lối mở rộng 63m). S không quan sát thấy phía trước có anh Đinh Thành C đang điều khiển xe đạp điện theo hướng thị trấn N2 đi đến gần hết phần đường đi sang xã H1 nên S không dừng xe lại kịp thời, dẫn đến đầu xe ô tô va chạm vào xe đạp điện, anh C bị văng ra đường, bánh trước bên phải xe ô tô chèn lên xe đạp điện và anh C. Sau đó anh C được mọi người đưa đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ ngày 08/6/2020, đến ngày 19/7/2020 chuyển sang điều trị tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, đến ngày 24/7/2020 chuyển sang điều trị tại Bệnh viên Y học cổ truyền Trung ương, đến ngày 09/9/2020 chuyển sang Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức; điều trị tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương từ ngày 09/10/2020 đến ngày 26/10/2020, chẩn đoán ra viện: viêm phổi- theo dõi nấm phổi - di chứng liệt tứ chi do chấn thương sọ não - động kinh. Hậu quả, anh Đinh Thành C bị thương tích nặng, xe đạp điện bị hư hỏng hoàn toàn.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Hiện trạng vụ tai nạn xảy ra là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh lộ 390 với đường nối Quốc lộ 37 đi cầu H thuộc địa phận thôn T, xã N1, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đường nối Quốc lộ 37 đi cầu H có mặt đường rộng 17m40, được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng, có 02 đảo dẫn hướng hình tam giác tại lối mở đi thị trấn N2 và đi xã H1 để dẫn hướng các xe rẽ phải, ở hai đầu đường có bố trí dải phân cách cứng bằng bloc xi măng để phân chia mặt đường thành 02 chiều xe chạy riêng biệt. Bên phải mép đường hướng đi cầu H có lối mở đi xã H1 rộng 65m. Bên trái mép đường hướng đi cầu H có lối mở đi thị trấn N2 rộng 63m. Tại vị trí mép đường bên phải đường lối quốc lộ 37 đi cầu H (chưa đến ngã tư) có 01 biển báo “giao nhau với đường không ưu tiên hai bên”. Tại vị trí mép đường bên phải đường tỉnh lộ 390 (từ thị trấn N2 đi xã H1) (chưa đến ngã tư) có 01 biển báo “đi chậm”. Tại ngã tư có hệ thống đèn giao thông nhưng chưa đi vào hoạt động.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo chiều từ Quốc lộ 37 đi cầu H, xác định: Lấy chân cột biển báo “giao nhau với đường không ưu tiên hai bên” ở mép đường bên phải làm điểm mốc và lấy mép đường bên phải đường nối Quốc lộ 37 đi cầu H làm chuẩn để đo đến các dấu vết.

Từ chân cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên nằm bên phải mép đường nối quốc lộ 37 đi cầu H đo thẳng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi Cầu H được 203m là đến đầu vết miết cao su mặt đường (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (1)), kích thước 16m80 x 40cm, vết có chiều quốc lộ 37 đi cầu H hơi chéo từ bên trái đường sang bên phải đường, đầu vết cách mép đường phải là 4m60, cuối vết cách mép đường phải là 53cm và trùng với bánh trước bên phải của xe ô tô. Từ đầu vết miết cao su mặt đường (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (1)) đo thằng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 50cm là đến đầu vết miết cao su mặt đường (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (2)), kích thước 16m35 x 40cm, vết có chiều quốc lộ 37 đi cầu H, đầu vết cách mép đường phải là 6m10, cuối vết cách mép đường phải là 5m05 và trùng với bánh trước bên trái của xe ô tô. Từ đầu vết miết cao su mặt đường (2) đo thẳng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 4m50 là đến đầu vết cà xước mặt đường đứt đoạn (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (3)), kích thước 1m60 x1cm, đầu vết cách mép đường phải là 5m20, cuối vết cách mép đường phải là 5m05. Từ đầu vết cà xước mặt đường (3) đo thẳng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 96cm là đến đầu vết cà xước mặt đường đứt đoạn (trên sơ đồ hiện trường đánh số (4)), kích thước 11m20 x 1cm, vết có chiều quốc lộ 37 đi cầu H, đầu và cuối vết cách mép đường bên phải lần lượt là 4m25, 53cm. Từ đầu vết cà xước mặt đường (4) đo thẳng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 6m75 là đến tâm trục bánh sau xe ô tô BKS 89C -112.38 đỗ trên đường (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (5)), tâm trục bánh sau đo vào mép đường phải là 1m25. Từ tâm trục bánh sau xe ô tô đo thằng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 2m40 là đến đầu vết cà xước mặt đường (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (6)), kích thước 1m x 20cm, vết có chiều quốc lộ 37 đi cầu H. Đầu và cuối vết cà xước mặt đường cách mép đường bên phải lần lượt là 45cm, 53cm. Từ đầu vết cà xước (6) đo thẳng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 67cm là đến vị trí vùng tóc, da bám dính trên cạnh của đảo dẫn hướng giao thông, kích thước 12 x 16cm, điểm thấp nhất của vết cách mặt đường là 16cm (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (7)). Từ tâm trục bánh trước xe ô tô BKS 89C -112.38 đo thẳng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 90cm là đến tâm trục bánh sau xe đạp điện nằm đổ ép bên trái xuống đường, trong gầm trước của xe ô tô, tâm trục bánh sau của xe cách mép đường bên phải là 25cm (trên sơ đồ hiện trường ký hiệu là (8)). Từ tâm trục bánh sau xe đạp điện đo thẳng vuông góc dọc theo chiều đường hướng xã Q đi cầu H được 1m80 là đến tâm vùng mảnh nhựa vỡ kích thước 45 x 30cm (trên sơ đồ ký hiệu là (9)), nằm ở sát mép đường phải hướng xã Q đi cầu H.

Kết quả khám nghiệm các phương tiện giao thông liên quan thể hiện:

Khám nghiệm xe ô tô biển số 89C - 11238: Tại vị trí ốp kim loại bảo vệ phía trước đầu xe do va chạm có lực tác động theo hướng từ trước về sau làm cho ốp kim loại bảo vệ đầu xe bị lõm vào trong 2cm so với vị trí ban đầu, kích thước 50cm x41cm. Điểm thấp nhất đo xuống mặt đất 98cm, điểm gần nhất đo ra khung sườn phải đầu xe 10cm. Tại phần ba đờ sóc phía trước của xe do va chạm có lực tác động theo hướng từ trước lại sau làm cho ba đờ sóc phía trước rời khỏi thân xe kích thước 1m90 x 30cm. Điểm thấp nhất đo xuống mặt đất 42cm. Tại vị trí bánh lốp phía trước bên phải người lái do va chạm có lực tác động làm cho bánh lốp phía trước bên phải bị mài mòn cao su, sạch bụi bẩn. Tại vị trí dãy số COIN xuôi theo chiều kim đồng hồ xuống dãy số RR202 kích thước 90cm x 10cm

Khám nghiệm xe đạp điện nhãn hiệu BRIDGESTONE, màu sơn trắng, xanh: Tại vị trí ghi đông phía trước của xe do va chạm có lực tác động làm toàn bộ ghi đông mài mòn kim loại, cao su để lại tạp chất màu trắng, đen, tại vị trí ghi đông vẫn còn để lại tạp chất màu đen (nhựa đường) kích thước 67 cm x 6cm. Điểm thấp nhất đo xuống mặt đất là 86cm. Tại vị trí giỏ phía trước của xe do va chạm có lực tác động làm giỏ bị biến dạng ép vào thân xe. Tại phần chắn bùn phía trước của xe do va chạm có lực tác động làm chắn bùn phía trước cong vênh biến dạng kích thước 40 cm x 6cm. Điểm thấp nhất đo xuống mặt đất là 42cm. Tại phần yên xe do va chạm có lực tác động làm yên xe bị rách, méo biến dạng, cụp về phía bên phải 5cm so với vị trí ban đầu. Tại bàn đạp bên trái do va chạm có lực tác động làm cho bàn đạp bên trái bị mài mòn nhựa, kích thước 7cm x 2,5cm. Cũng lực tác động này làm cho bàn đạp ép vào thân xe không còn tác dụng, điểm thấp nhất đo xuống mặt đất 25cm. Tại bàn đạp bên phải của xe do va chạm có lực tác động làm cho bàn đạp ép vào thân xe theo hướng từ trên xuống dưới, không còn tác dụng. Điểm thấp nhất đo xuống mặt đất 10cm. Tại phần tay lái bên phải do va chạm có lực tác động làm phần tay phanh bị gãy rời khỏi thân xe. Tại phần tay phanh bên trái do va chạm có lực tác động làm phần tay phanh bị mài mòn nhựa, kim loại kích thước 18cm x 8cm. Điểm thấp nhất đo xuống mặt đất 90cm. Tại phần chắn bùn phía trước của xe đạp điện do va chạm có lực tác động làm nên bị cong vênh, biến dạng kích thước 6cm x 40cm.

Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 4075/C09-TT1 ngày 06/7/2020 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Sẹo phẫu thuật trán - đỉnh - chấm phải, kích thước lớn: 3%; vỡ xương sọ vùng đỉnh phải lan vào khớp dọc, đã được phẫu thuật kèm khuyết xương sọ vị trí trán - thái dương - đỉnh phải, đường kính ổ khuyết >10%, đáy phập phồng: 41%; máu tụ ngoài màng cứng chính giữa vùng đỉnh hai bên dưới khớp liên đỉnh: 11%; tụ máu dưới màng cứng vị trí cạnh liềm đại não: 11%. Áp dụng phương thức xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đinh Thành C tại thời điểm giám định là 55 %. Thương tích của anh Đinh Thành C do tác động tương hỗ với vật tày gây nên. Hiện tại anh Đinh Thành C đang được điều trị tại bệnh viện không làm được các xét nghiệm và khám chuyên khoa cần thiết nên không đánh giá được hết các tổn thương và di chứng chấn thương. Sau khi anh Đinh Thành C được điều trị ổn định, đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách đưa anh Đinh Thành C đi giám định bổ sung.

Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 7483/C09-TT1 ngày 31/12/2020 xác định Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đinh Thành C tại thời điểm giám định bổ sung: Tỉ lệ % tổn thương cơ thể giữ nguyên: Sẹo kích thước lớn vùng đầu 3%. Tỷ lệ % tổn thương cơ thể thay đổi và bổ sung: Khuyết xương sọ đường kính >10cm đã được ghép, đáy chắc: 31%; tổn thương não gây di chứng liệt tứ chi mức độ vừa: 81%; tổn thương não gây di chứng động kinh không đáp ứng điều trị, hiện còn cơn hiếm: 21%; viêm phổi, bệnh tái phát trên một lần/tháng: 11%. Áp dụng phương thức xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Đinh Thành C tại thời điểm giám định bổ sung là 91%.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 31/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Nam Sách, kết luận: 01 chiếc xe đạp điện không rõ biển số nhãn hiệu RIDGESTONE, màu sơn trắng - xanh đã qua sử dụng trước khi xảy ra tai nạn thời điểm 08/6/2020 trị giá 733.000 đồng.

Tại kết luận giám định số 2515/C09 – P6 ngày 23/4/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định.

Tại bản cáo trạng số 19/CT – VKS - NS ngày 18/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo giao nộp 01 đơn đề nghị về việc xin xác nhận bị cáo có con bị thiểu năng trí tuệ. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, xác định việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đối với mình là đúng và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 41, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe ôtô trong thời hạn từ 12 tháng đến 15 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tạm giữ giấy phép lái xe ôtô đã cấp cho bị cáo để lưu giữ trong hồ sơ vụ án trong thời gian bị cấm hành nghề lái xe ôtô; về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết; Đối với 01 USB có chứa tệp video clip lưu lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông thì cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người đại diện theo pháp luật của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, các kết luận giám định về thương tích, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 55 phút ngày 08/6/2020 tại khu vực ngã tư giao giữa đường tỉnh lộ 390 với đường nối Quốc lộ 37 đi cầu H thuộc địa phận thôn T, xã N1, huyện N, tỉnh Hải Dương, Phạm Văn S điều khiển xe ô tô biển số 89C-112.38 theo hướng từ Quốc lộ 37 đi cầu H, khi gặp biển cảnh báo nguy hiểm "giao nhau với đường không ưu tiên" đã không chú ý quan sát nên không giảm tốc độ, dẫn đến xảy ra va chạm với xe đạp điện do anh Đinh Thành C điều khiển đi trên tỉnh lộ 390 theo hướng thị trấn N2 đi xã H. Hậu quả: Anh Đinh Thành C bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 91%, xe đạp điện bị hư hỏng hoàn toàn. Giá trị xe đạp điện tại thời điểm xảy ra tai nạn là 733.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm phạm sức khỏe của công dân, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Nguyên nhân của vụ tai nạn nêu trên là do: Phạm Văn S điều khiển xe ô tô biển số 89C-112.38 đến nơi đường giao nhau với đường không ưu tiên và có biển báo nguy hiểm “giao nhau với đường không ưu tiên’’ nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định về chấp hành báo hiệu đường bộ, khoản 1 điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe, khoản 1 điều 5 Thông tư 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về các trường hợp phải giảm tốc độ. Anh Đinh Thành C điều khiển xe đạp điện đi đến nơi đường giao nhau với đường ưu tiên, có biển báo nguy hiểm “đi chậm’’ nhưng không giảm tốc độ để nhường đường, đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định về chấp hành báo hiệu đường bộ, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau. Hậu quả: anh Đinh Thành C bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 91%, xe đạp điện bị hư hỏng hoàn toàn (giá trị xe đạp điện tại thời điểm xảy ra tai nạn là 733.000 đồng). Phạm Văn S không bị thương tích và xe ô tô BKS 89C - 112.38 không bị hư hỏng.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương đã truy tố Phạm Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại 503.000.000 đồng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội, nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong vụ án bị hại là anh Đinh Thành C cũng có lỗi vì điều khiển xe đạp điện đi đến nơi đường giao nhau với đường ưu tiên, có biển báo nguy hiểm “đi chậm” nhưng không giảm tốc độ để nhường đường, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ; người đại diện theo pháp luật của bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nên bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội với lỗi vô ý; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; bị cáo có 01 con sinh năm 2003 bị tự kỷ từ nhỏ, cần người chăm sóc hàng ngày, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo, thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật và không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong một thời gian nhất định và tạm giữ giấy phép lái xe của bị cáo trong thời gian bị cấm hành nghề lái xe ô tô.

Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị hại đã tự thỏa thuận giải quyết xong về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách đã trả lại chiếc xe ô tô biển số 89C - 11238 cho chủ sở hữu là bị cáo Phạm Văn S; trả lại chiếc xe đạp điện cho ông Đinh Văn D là người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu là anh Đinh Thành C là phù hợp nên không đặt ra xem xét.

Đối với 01 USB có chứa tệp video clip lưu lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của anh Đinh Thành C vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ. Ngày 17/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đã ban hành công văn số 39/CV-VKS-NS đôn đốc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Đinh Thành C. Tại công văn số 384/CQĐT ngày 18/6/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách có xác định anh Đinh Thành C vi phạm quy định tại điểm c khoản 1, điểm d khoản 3 Điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, nhưng chưa đủ căn cứ để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh C vì sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra thì anh C bị thương tích nặng, hiện chưa tiếp xúc làm việc được. Hành vi của anh Đinh Thành C không thuộc trường hợp quy định tại Điều 11 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính, Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách xử lý theo thẩm quyền.

Phạm Văn S mua xe ô tô biển kiểm soát 89C - 11238 của anh Vũ Duy H từ tháng 11/2019 đến thời điểm xảy ra tai nạn giao thông không làm thủ tục đăng ký sang tên xe nên đã vi phạm điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt nên đã bị Công an huyện Nam Sách ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 41, Điều 65 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/7/2021.

Giao bị cáo Phạm Văn S cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Phạm Văn S hành nghề lái xe ôtô trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tạm giữ giấy phép lái xe hạng C, số 300086306376 do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 02/3/2020, có giá trị đến ngày 02/3/2025 để lưu trong hồ sơ vụ án trong thời gian Phạm Văn S bị cấm hành nghề lái xe ôtô.

Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

Đối với 01 USB có chứa tệp video clip lưu lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, những người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ