vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè: BÞ cáo Nguyễn Văn C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ®iÓm h kho¶n 1 §iÒu 52, ĐiÒu 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử ph¹t bị cáo C 02 (hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 19-10-2020. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu để tiê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Nguyễn Văn C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS-ST
Ngày 02-3-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bình

2. Ông Đinh Trọng Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm1987. Nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Nh và bà Lê Thị H; có vợ Nguyễn Thị Th và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 32/2017/HSST ngày 05/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt Nguyễn Văn C 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2018; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/10/2020 đến ngày 22/10/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Những người làm chứng:

1.Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

2. Anh Đào Văn Ph, sinh năm 1969 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 19-10-2020 tại đoạn đường ĐH61 thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện H; Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn C có hành vi cất giấu tại túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc 01 gói ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,1246 gam, mục đích để sử dụng. Công an huyện H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói ma túy trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Ngoài ra, còn thu giữ của C 01 xe máy nhãn hiệu Honđa Airblade biển kiểm soát 61Z1 - 5555. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Bản kết luận giám định số 375/KLGĐ-PC09 ngày 21/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định thu giữ của Nguyễn Văn C là ma túy, loại Hêrôin, khối lượng là 0,1246 gam (không phẩy một nghìn hai trăm bốn mươi sáu gam).

Bản cáo trạng số 19/CT- VKSHH ngày 22-01-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo C thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 BLHS; xử phạt bị cáo C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C; Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 375/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo C không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục số 25, 26); biên bản quản lý và niêm phong đồ vật tài liệu (Bút lục số 27); biên bản khám xét (Bút lục số 33, 34); bản kết luận giám định số 375/KLGĐ-PC09 ngày 21/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 40); lời khai những người làm chứng: anh Nguyễn Văn V, và anh Đào Văn Ph (Bút lục từ số 76 đến số 83). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ ngày 19/10/2020, tại đoạn đường ĐH61 thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện H, Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1246 gam ma túy, loại Hêrôin, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d)…

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, nhưng do mắc nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án nên bị cáo bÞ ¸p dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù theo quy định tại điểm h khoản 1 ĐiÒu 52 BLHS. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Bị cáo mắc nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn C khai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/10/2020, C gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) ở khu vực chợ thị trấn H, huyện H với giá 200.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của C không có tài liệu nào khác, không xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho C nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: 0,1044 gam (Không phẩy một nghìn không trăm bốn mươi bốn gam) ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo C trong phong bì số 375/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm lưu hành, cần tịch thu để tiêu huỷ.

Về nguồn gốc chiếc xe máy Honđa Airblade biển kiểm soát 61Z1- 5555: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên tách ra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyªn bè: BÞ cáo Nguyễn Văn C ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ®iÓm h kho¶n 1 §iÒu 52, ĐiÒu 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử ph¹t bị cáo C 02 (hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 19-10-2020.

3. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu huỷ 0,1044 gam (Không phẩy một nghìn không trăm bốn mươi bốn gam) ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo C trong phong bì số 375/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o C ph¶i nộp 200.000 đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

5. BÞ c¸o C cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ