- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Diệu H "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo ê Thị Diệu H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUY N HẢI LĂN TỈNH QUẢN TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2021/HS-ST Ngày 10/12/2021. |
NHÂN DANH
N C C N H A X H I CH N H A VI T NAM
T A ÁN NHÂN DÂN HUY N HẢI LĂN , TỈNH QUẢN TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng ê Thanh hánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- ng Nguyễn Minh Tuấn.
- Ông Phạm Quang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên – Th k Tòa án nhân dân huyện Hải ăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên toà: Ông Phạm Tiến Quân - iểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải ăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ l số 25/2021/TLST-HS ngày 17/11/2021, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 26/2021/HSST-QĐ ngày 29/11/2021, đối với bị cáo:
Lê Thị Diệu H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 17 tháng 01 năm 1986 tại Quảng Trị; nơi c trú: hóm 9, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: inh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông ê Văn V, sinh năm 1951 và Đặng Thị D (Đã chết); có chồng là ê Ngọc T, sinh năm 1986 và 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: hông có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi c trú”, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Hồ T, sinh năm 1974 (Đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại Hồ T: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; anh Hồ Văn T, sinh năm 1998; chị Hồ Thị , sinh năm 2002; đều trú tại: Thôn K, xã H1, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Hồ Văn T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn K, xã H1, huyện H, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 07/6/2021), có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị ê Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: hóm 9, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người làm chứng: ng Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn K, xã H1, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
N I DUN V ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ c tóm tắt nh sau:
Khoảng 19 giờ ngày 24/5/2021, ê Thị Diệu H (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô B S 74C1-452.97 (của chị ê Thị T) l u thông trên Tỉnh lộ 582B theo h ớng Quốc Lộ 1A đi xã H2. Khi đến m 9+200 thuộc địa phận xã H3, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Lúc này, ông Hồ T điều khiển xe mô tô BKS 74F1-9177 l u thông phía tr ớc cùng chiều làm rơi một cái ca nhựa nên cho xe chạy chậm lại và quay đầu về trái để nhìn đồng thời cho xe rẽ trái để quay lại. Cùng lúc này, do thiếu quan sát và không giữ khoảng cách an toàn đối với xe do ông T đang chạy liền tr ớc trong điều kiện tầm nhìn bị hạn chế nên Lê Thị Diệu H để xe mô tô BKS 74C1-45297 của mình tông vào phía sau bên trái xe mô tô BKS 74F1-9177 gây tai nạn. Hậu quả, ông Hồ T bị th ơng đ c đ a đi cấp cứu tại Bệnh viện Trung ơng Huế đến ngày 26/5/2021 thì chết.
Tại Bản kết luận giám định số 683/ GĐ-PC09, ngày 25/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Nguyên nhân chết của ông Hồ T là đa chấn th ơng.
Tại Bản kết luận giám định về dấu vết cơ học số 667/ GĐ-PC09, ngày 21/6/2021 của Phòng ỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
- Vị trí va chạm giữa xe mô tô B S 74C1-45297 với xe mô tô BKS 74F1-9177 trong vụ tai nạn giao thông trên là: Phần tr ớc bên phải xe mô tô B S 74C1-452.97 gồm các vị trí: Bánh tr ớc; ốp nhựa đèn tín hiệu, ốp nhựa phía d ới gác để chân va chạm với phần bên trái xe mô tô B S 74F1-9177 gồm các vị trí: Lốc máy, yên xe, hộp bảo vệ xích.
- Chiều h ớng va chạm: Xe mô tô BKS 74C1-45297 tác động vào xe mô tô BKS 74F1-9177 theo chiều h ớng từ sau tới tr ớc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải ăng kết luận: Thiệt hại tài sản của xe mô tô BKS 74F1-9177 là 186.000 đồng; thiệt hại tài sản của xe mô tô BKS 74C1-452.97 là 711.000 đồng.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKS-HL ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải ăng truy tố bị cáo Lê Thị Diệu H về tội “Vi ph m quy đ nh v tham gia giao thông đ ng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi nh nội dung bản cáo trạng đã nêu ở trên.
Ng ời đại diện h p pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đ c h ởng án treo, và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận về bồi th ờng dân sự theo biên bản thỏa thuận ngày 06/12/2021.
Ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo bồi th ờng đối với thiệt hại của xe mô tô BKS 74C1-452.97.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Vi ph m quy đ nh v tham gia giao thông đ ng bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 (m ời hai) đến 18 (m ời tám) tháng tù, cho h ởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn phạt tù tính từ ngày tuyên án. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 584, 591 của Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận về bồi th ờng thiệt hại giữa bị cáo và đại diện h p pháp của bị hại.
Trong phần tranh luận: iểm sát viên; bị cáo; đại diện h p pháp của bị hại; ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không có kiến tranh luận.
ời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo đ c h ởng án treo.
NH N ĐỊNH C A T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã đ c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; ng ời đại diện h p pháp của bị hại; ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không có kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, iểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, iểm sát viên đã đ c thực hiện đều h p pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: hoảng 19 giờ ngày 24/5/2021, ê Thị Diệu H (có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô B S 74C1-452.97 l u thông trên Tỉnh lộ 582B theo h ớng Quốc Lộ 1A đi xã H2. Khi đến m 9+200 thuộc địa phận xã H3, huyện H, tỉnh Quảng Trị, do thiếu quan sát, không giữ khoảng cách an toàn trong điều kiện tầm nhìn bị hạn chế nên đã tông vào xe mô tô BKS 74F1-9177 do ông Hồ T, điều khiển l u thông phía tr ớc cùng chiều, gây tai nạn. Hậu quả, ông Hồ T bị th ơng nặng đ c đ a đi cấp cứu tại Bệnh viện Trung ơng Huế đến ngày 26/5/2021 thì chết. ỗi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 uật Giao thông đ ờng bộ và khoản 2 Điều 5 Thông t số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải.
Với lỗi vi phạm và hậu quả xảy ra, bị cáo đã phạm tội “Vi ph m quy đ nh v tham gia giao thông đ ng bộ”. Tội phạm và hình phạt đ c quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng, tài sản của ng ời khác, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử l nghiêm nh m giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi l ng hình, Hội đồng xét xử thấy r ng: Quá trình điều tra, truy tố c ng nh tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, đ c chính quyền địa ph ơng xác nhận nh ng bị cáo đã cố gắng bồi th ờng đ c một phần thiệt hại cho gia đình bị hại; bị cáo đang một mình nuôi con nhỏ. Trong vụ án này, bị hại c ng có một phần lỗi đó là cho xe giảm tốc độ đột ngột và không có tín hiệu báo chuyển h ớng cho xe phía sau; tại phiên tòa đại diện h p pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo đ c h ởng án treo. Vì vậy, bị cáo đ c h ởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi c trú rõ ràng. Do đó, áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo b ng mức khởi điểm và cho bị cáo đ c h ởng án treo nh đề nghị của Viện kiểm sát c ng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị ê Thị T: Chị T giao xe mô tô BKS 74C1-452.97 cho bị cáo là ng ời có giấy phép lái xe theo quy định, có đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô nói trên, nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị ê Thị T.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo và ng ời đại diện h p pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các bên theo biên bản thỏa thuận ngày 06/12/2021. Xét thấy, việc thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận cho các bên.
- Đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô BKS 74C1-452.97 của chị T, quá trình điều tra và tại phiên tòa chị T không yêu cầu bị cáo bồi th ờng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo ê Thị Diệu H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đ ờng bộ”.
2. Xử phạt bị cáo ê Thị Diệu H 12 (m ời hai) tháng tù, cho h ởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai m ơi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (10/12/2021).
Giao bị cáo ê Thị Diệu H cho UBND thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối h p với chính quyền địa ph ơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, ng ời đ c h ởng án treo cố vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ c h ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo.
Tr ờng h p ng ời đ c h ởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 uật thi hành án hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 591 Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận theo biên bản thỏa thuận ngày 06/12/2021 giữa bị cáo và đại diện h p pháp của bị hại:
- ể từ ngày 01/6/2021, mỗi tháng bị cáo cấp d ỡng nuôi cháu Hồ Thị Diệu , sinh ngày 16/6/2006 số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm m ơi ngàn đồng) và Hồ Đức T, sinh ngày 15/9/2008 số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm m ơi ngàn đồng) cho đến khi cháu L, cháu T đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Chi phí cứu chữa, chăm sóc bị hại: Bị cáo phải bồi th ờng cho gia đình bị hại 15.000.000 đồng (m ời lăm triệu đồng).
- Chi phí mai táng: Bị cáo bồi th ờng cho gia đình bị hại 24.500.000 đồng (hai m ơi bốn triệu năm trăm ngàn đồng).
- Về bồi th ờng bù đắp tổn thất tinh thần: Bị cáo bồi th ờng cho gia đình bị hại 35.000.000 đồng (ba m ơi lăm triệu đồng), bị cáo đã bồi th ờng 30.000.000 đồng (ba m ơi triệu đồng), còn phải tiếp tục bồi th ờng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Đối với các khoản: Chi phí cứu chữa, chăm sóc bị hại; chi phí mai táng; tiền bồi th ờng bù đắp tổn thất tinh thần, bị cáo phải bồi th ờng cho gia đình bị hại chậm nhất là 60 (sáu m ơi) ngày kể từ ngày tuyên án (10/12/2021).
ể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với tr ờng h p cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ c thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ng ời đ c thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ tr ờng h p pháp luật có quy định khác.
Tr ờng h p bản án đ c thi hành theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án dân sự thì ng ời đ c thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ c thực hiện theo quy định tại Điều 30 uật thi hành án dân sự.
4. Về án phí: Áp dụng điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội: Buộc bị cáo ê Thị Diệu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; ng ời đại diện h p pháp của bị hại; ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (m ời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - Sở T pháp tỉnh Quảng Trị; - CA, VKSND, THADS huyện Hải ăng; - Ng ời tham gia tố tụng; - THA hình sự; - u hồ sơ vụ án. | TM. H I ĐỒN XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thanh Khánh |