vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Các biện pháp tƣ pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21 /2021/HS-ST
Ngày 22 tháng 03 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: OÂng Lưu Quốc Chinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bành Trọng Bình

Bà Đặng Thị Thanh Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đình Phong – C/v Kiểm sát viên

Trong ngày 22 tháng 03 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2021/HSST-QĐ ngày 08 tháng 02 năm 2021; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 56/2021/TB-TA ngày 08 tháng 03 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Bá G, sinh năm 1996, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký HKTT: Thôn 09, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Thôn 09, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá D (đã chết) và bà Nguyễn Thị L – SN: 1976; Có vợ Trương Thị N – SN: 2001, có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ theo Biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 27 tháng 03 năm 2020 (Bị cáo có mặt).

2. Trƣơng Ngọc B (B 54), sinh năm 1999, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký HKTT: Thôn 11, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: Thôn 11, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk: Làm nông; Trình độ văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Ngọc L1 – SN: 1957 và bà Phạm Thị L2 – SN: 1958; bị cáo chưa có vợ; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 26 tháng 03 năm 2020 (bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trƣơng Thị N – SN: 2001

Địa chỉ: Thôn 09, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

2. Anh Lê Minh Th - SN: 1991

Địa chỉ: Thôn 08, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

3. Anh Bùi Huy H - SN: 2002

Địa chỉ: Thôn 06, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

4. Anh Võ Tuấn Q (Q R Bô) – SN: 1998

Địa chỉ: Số 15/9 đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Đỗ Văn T, sinh ngày: 09/07/2004

Địa chỉ: Thôn 06, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

2. Anh Trƣơng Văn M (M T) – SN: 1988

Địa chỉ: Thôn 05, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

3. Anh Võ Chí C (C T)– SN: 1987

Địa chỉ: Thôn 01, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

4. Anh Lang Văn L3 (L3 X) – SN: 1990

Địa chỉ: Thôn Đừng, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

5. Anh Nguyễn Vĩnh A (C A) – SN: 2001

Địa chỉ: Thôn 01, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

6. Anh Lê Duy S (Q) – SN: 1993

Địa chỉ: Thôn 08, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

7. Anh Nguyễn Quốc V (X) – SN: 1993

Địa chỉ: Thôn 05, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

8. Anh Trần Anh D1 (K) – SN: 1997

Địa chỉ: Thôn 08, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

09. Anh Nguyễn Văn H1 – SN: 1983

Địa chỉ: Thôn 07, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

10. Anh Bế Hùng D2 – SN: 2003

Địa chỉ: Thôn 01, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

11. Anh Phạm Văn Ng – SN: 1999

Địa chỉ: Thôn 04, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Vắng mặt).

12. Chị Ngân Thị D3 – SN: 2000

Địa chỉ: Thôn 04, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Vắng mặt).

13. Chị Nguyễn Thúy H3 – SN: 1985

Địa chỉ: Thôn 07, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

14. Anh Đặng Văn B1 – SN: 1990

Địa chỉ: Thôn 08, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

15. Anh Nguyễn Văn T1 – SN: 1997

Địa chỉ: Thôn 08, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

16. Chị Đặng Thị H4 – SN: 1975

Địa chỉ: Thôn 09, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26 tháng 03 năm 2020, tại nhà của Nguyễn Bá G, gồm có: Trương Ngọc B, là anh vợ của Nguyễn Bá G, Đỗ Văn T, Trương Văn M, Võ Tuấn Q, Võ Chí C, Lang Văn L3, Nguyễn Vĩnh A, Lê Duy S, Nguyễn Quốc V, Trần Anh D1, Nguyễn Văn H1. Đến 16 giờ 58 phút cùng ngày, Nguyễn Bá G sử dụng xe mô tô của Nguyễn Văn H1 đi ra khỏi nhà, đi đâu thì những người có mặt tại nhà Nguyễn Bá G không biết.

Đến 17 giờ 04 phút cùng ngày, Nguyễn Bá G trở về nhà và mang theo 01 chiếc hộp giấy các tông. G ngồi trên băng ghế gỗ phòng khách mở hộp giấy, lấy từ trong hộp giấy ra 02 tấm vải màu đỏ bỏ ra ngoài và cầm hộp giấy đi vào trong phòng ngủ sát phòng khách, Nguyễn Vĩnh A đi theo G vào trong phòng ngủ. Trong phòng, Nguyễn Vĩnh A nhìn thấy G lấy từ trong chiếc hộp giấy ra 01 gói thuốc lá Jet, rồi lấy từ trong gói thuốc lá Jet ra một túi nylon màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, qua quan sát, do là người sử dụng ma túy, nên Nguyễn Vĩnh A cho rằng chất rắn màu trắng G cầm là ma túy, và một vài viên ma túy, hình tròn có màu xanh. Sau khi lấy túi nylon ra khỏi gói thuốc lá Jet, G cầm gói nylon đi xuống phòng bếp, là phòng tiếp giáp với phòng ngủ của vợ chồng G, ở đây có đặt một bộ bàn ghế gỗ loại 03 tấm. Khi G đi xuống phòng bếp, thì Lang Văn L3, Trương Ngọc B, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Vĩnh A, Võ Chí C, Võ Tuấn Q, Trần Anh D1, Đỗ Văn T cũng đi xuống bếp theo.

Tại phòng bếp, Nguyễn Vĩnh A nghe có người nào đó nói là “Cu A lên phòng lấy đồ nghề xuống để chơi” ở đây có nghĩa là dụng cụ sử dụng ma túy đá đã có có sẵn trong nhà Nguyễn Bá G. Do tại đây có nhiều người, nên Nguyễn Vĩnh A không biết người nào nói. Hiểu được nội dung câu nói Nguyễn Vĩnh A đi lên phòng ngủ sát phòng khách của Nguyễn Bá G, A lấy ra 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa, có nắp đậy màu đỏ, trên nắp chai có đục 02 lỗ tròn, một lỗ tròn gắn 01 ống thủy tinh dài 03cm, một đầu thẳng, một đầu có một khối cầu khuyết một lỗ ở trên (người sử dụng ma túy thường gọi là nỏ, cóong, nồi), lỗ tròn còn lại gắn một ống nhựa (loại ống dùng để hút nước giải khát). Lấy được dụng cụ sử dụng ma túy đá, A mang xuống phòng bếp, đặt lên trên chiếc bàn gỗ trong phòng. Nguyễn Bá G đi lại, ngồi ở trên ghế gỗ, chiếc ghế đặt sát bức tường ngăn cách phòng ngủ của vợ chồng G với phòng bếp. Nguyễn Vĩnh A ngồi bên tay phải G, C ngồi bên tay trái G, L3 ngồi ở chiếc ghế đối diện với G. Tay trái G cầm một cục ma túy đá, tay phải G cầm một chiếc kéo bằng kim loại, mũi kéo bằng, G dùng kéo bấm nhỏ ma túy đá ở trong lòng bàn tay trái G, tiếp đó G dùng tay phải nhặt ma túy đá bỏ vào trong cóong, rồi đi ra khỏi ghế. Võ Chí C nghe thấy có ai đó nói là góp mỗi người 100.000 đồng đến 200.000 đồng đưa cho G mua ma túy để sử dụng.

Nguyễn Bá G nói với L3 là “L3 X 200”, L3 hiểu ý của G, là muốn sử dụng ma túy phải trả tiền mua ma túy đá cho G là 200.000 đồng, L3 đưa cho G 200.000 đồng, gồm 01 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 200.000 đồng. Tiếp theo, Nguyễn Quốc V cũng đưa cho G 100.000 đồng, gồm 01 tờ tiền Việt Nam, mệnh giá 100.000 đồng để mua ma túy đá của G. Lê Duy S đang ở trên phòng khách, thì G nói lên với S nội dung “Xuống chơi đồ với mấy anh em”, S hiểu câu nói của G, là G gọi S xuống bếp sử dụng ma túy đá với những người đang ở dưới phòng bếp, S xuống phòng bếp sử dụng ma túy với những người khác đang ở phòng bếp. Nguyễn Văn H1 đang ở phòng khách, cũng nghe thấy có tiếng ai đó nói “Anh H1 xuống làm một hơi”, H1 hiểu là có người gọi H1 xuống bếp để sử dụng ma túy, ai nói thì H1 không biết, H1 đi xuống phòng bếp để sử dụng ma túy với mọi người. Sau khi đưa tiền cho G, Lang Văn L3 là người đốt ma túy cho L3 và những người khác hút. Khi hút ma túy đá thì vị trí của những người hút ma túy như sau: Trên ghế gỗ sát bức tường phòng ngủ của G là Võ Chí C, bên phải C là Nguyễn Vĩnh A, trên ghế đối diện là Lang Văn L3, bên phải L3 là Nguyễn Văn H1, bên phải H1 là Đỗ Văn T, Trương Ngọc B ngồi trên bàn, Lê Duy S, Nguyễn Quốc V đứng trên nền nhà, sát mép bàn, gần đường luồn lên phòng khách. Theo lời Nguyễn Văn H1 khai, khi mọi người hút ma túy đá thì G có mặt tại đây và đứng sau lưng H1. Khi đã hút hết ma túy đá, Nguyễn Vĩnh A có nói với G là “còn không cho thêm ít sử dụng”, thì G nói lại “ba trăm như vậy là nhiều rồi”. Đối với Nguyễn Bá G, Trần Anh D1, Võ Tuấn Q, Trương Văn M mặc dù có mặt ở đó, xong chưa có tài liệu thể hiện có sử dụng ma túy tại phòng bếp.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, tại phòng ngủ thứ nhất của Nguyễn Bá G. Trong phòng có Trương Văn M, Nguyễn Vĩnh A, Trương Ngọc B. B nhờ G mua giúp cho B 1.000.000 đồng ma túy đá, G đi vào phòng, G đưa cho B một gói nylon màu trắng, được dán kín xung quanh, bên trong gói nylon có chứa ma túy đá. Trương Ngọc B cầm gói ma túy đá G đưa và dùng kéo bằng kim loại cắt túi nylon (túi đựng hồ sơ bán ở các cửa hàng văn phòng phẩm) thành các miếng nhỏ, rồi dùng kéo kim loại, quẹt ga đốt nóng lưỡi kéo để hàn kín (kẹp) 03 cạnh miếng nylon đã cắt nhỏ thành các gói nylon nhỏ, có kích thước tương tự nhau (3,5 x 0,5)cm, B lấy ma túy đá trong gói nylon mà G đưa cho, chia nhỏ vào các gói nhựa nylon đã làm sẵn được 13 gói, rồi dùng kéo hàn (kẹp) kín cạnh còn lại. Mục đích chia nhỏ số ma túy đá để B cất giấu bán lại cho người khác. 13 gói ma túy B giấu ở người. Sau đó, Trương Văn M, Nguyễn Vĩnh A góp tiền lại mua ma túy đá của Trương Ngọc B để sử dụng, M đưa cho B 300.000 đồng, A đưa cho B 100.000 đồng. B cầm tiền của M và A rồi lấy ra 02 gói ma túy đá trong tổng số 13 gói ma túy đã chia, cùng M, A sử dụng hết 02 gói ma túy đá tại nhà Nguyễn Bá G. Số tiền Trương Văn M, Nguyễn Vĩnh A mua ma túy đá, B đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết. Sau khi sử dụng ma túy đá, B, M, A nằm chơi trong phòng, sau đó Võ Tuấn Q vào phòng nằm chơi. Đến 21 giờ 05 phút, ngày 26 tháng 03 năm 2020, Trương Ngọc B bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp bắt quả tang tại nhà Nguyễn Bá G thu giữ 11 gói nhựa màu trắng, được hàn kín xung quanh, kích thước tương tự nhau từ (3,5 x 0,5)cm, bên trong 11 gói nhựa đều có chứa chất rắn màu trắng, dạng tinh thể; 02 chiếc kéo; 01 quẹt ga; 01 chiếc ống nhựa dài 27cm; 01 chai nhựa màu trắng hình trụ, cao 14cm, đường kính chai 05 cm, đường kính cổ chai 2,5cm, chai có nắp đậy màu đỏ, trên nắp chai có đục 02 lỗ tròn; 01 ống thủy tinh dài 03cm, một đầu thẳng, một đầu có một khối cầu khuyết một lỗ ở trên; 01 gói nhựa màu trắng, 03 cạnh dán kín, 01 cạnh hở, kích thước gói nhựa (5x3)cm; 01 bìa nhựa không còn nguyên vẹn; 01 chiếc sọt rác nhựa màu xanh.

Ngày 27/03/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp khám xét tại nhà của Nguyễn Bá G thu giữ: 01 đầu thu hình Camera, nhãn hiệu HIKVISION đầu thu 08 cổng; 01 cục nguồn hình hộp chữ nhật; 01 cuốn sổ; 01 gói giấy báo hình trụ bên trong có đựng nhiều ống thủy tinh nhỏ, màu trắng, hình tròn có lỗ kích thước tương tự như nhau bằng 16cm, có 60 ống; 01 túi nylon màu xanh bên trong có đựng nhiều bộ bài tú lơ khơ, loại bài 52 lá; 01 đĩa sứ; 03 đĩa nhựa; 01 túi nylon màu đen bên trong có chứa 10 chiếc điện thoại các loại; 03 chiếc đồng hồ; 08 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô các loại; 03 giấy chứng minh nhân dân; 04 giấy phép lái xe; 01 thẻ ATM; 01 giấy mua bán xe viết tay (số đồ vật này thu trong phòng ngủ của Nguyễn Bá G).

Mở rộng hiện trường khám xét về phía bắc cách tường nhà của Nguyễn Bá G 7,5m phát hiện và thu giữ: 01 túi nylon trong suốt, bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn, màu xanh nước biển; 01 túi nylon trong suốt bên trong có chứa 10 viên nén hình vuông có hoa văn khắc chìm màu xanh lá cây; 01 túi nylon trong suốt bên ngoài vỏ túi có chữ “ Hello” bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể; 01 hộp nhựa màu đen hình tròn bên trong có chứa 01 túi nylon màu xanh, bên trong túi màu xanh có chứa 01 túi nylon trong suốt bên trong có chứa chất rắn màu trắng.

Thu giữ 01 hộp nhựa tròn màu trắng cao 7,3cm, đường kính 5,5cm bên trong có chứa 31 gói nhựa màu trắng đã bị cắt 01 đầu, hộp nhựa có đặc điểm như trên được thu tại phòng ngủ sát phòng khách nhà ở của Nguyễn Bá G.

Thu giữ 01 chiếc quần đùi màu đen; 01 chiếc hộp giấy; số tiền 3.980.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO của Nguyễn Bá G.

Tại bản kết luận giám định số: 283 ngày 03/04/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Phong bì M1: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 11 gói nylon được niêm phong là ma túy, có tổng khối lượng 0,9420 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,8406gam.

Phong bì M2: 10 viên nén hình vuông khắc hoa văn màu xanh lá cây được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,5165gam, loại MDMA, còn lại sau giám định 4,4103gam; 02 Viên nén hình tròn màu xanh nước biển được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,6843gam, loại: MDMA, còn lại sau giám định 0,6021gam; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói ny lon trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 32,5383gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định 31,0310gam; Chất rắn màu trắng đựng trong 01 túi nylon màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 7,2111 gam, loại Ketamine, còn lại sau giám định 6,9160 gam.

Tại bản kết luận định giá, số: 42 ngày 28/09/2020 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện E, kết luận: trị giá 01 bộ bàn ghế gỗ cà chít loại 03 tấm 14.667.000 đồng; Căn phòng sinh hoạt chung 54.430.000 đồng; 01 căn phòng ngủ 22.427.000 đồng nhà ở của Nguyễn Bá G tổng giá trị: 91.524.000 đồng.

Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp truy tố bị cáo Nguyễn Bá G, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trương Ngọc B, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà phần xét hỏi bị cáo Trương Ngọc B không thừa nhận mua ma túy của Nguyễn Bá G nhưng đến phần tranh luận bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã thực hiện đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố, bản luận tội của Viện kiểm sát và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.

Đối với bị cáo Nguyễn Bá G trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, chỉ thừa nhận mình là người sử dụng trái phép chất ma túy, loại MDMA.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tại phiên tòa đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B như nội dung bản cáo trạng và đưa ra các tình tiết, giảm nhẹ đối với các bị cáo, đồng thời bổ sung thêm điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự truy tố đối với các bị cáo.

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251, 255 Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá G từ 08 (Tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá G từ 08 (Tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 16 (Mười sáu) năm đến 18 (Mười tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 27 tháng 03 năm 2020.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Ngọc B từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Ngọc B từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm đến 16 (Mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bản bắt người phạm tội quả tang ngày 26 tháng 03 năm 2020.

Về vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,8406gam Methamphetamine (còn lại sau giám định) đã được niêm phong; 02 chiếc kéo; 01 quẹt ga; 01 chiếc ống nhựa dài 27cm; 01 chai nhựa màu trắng hình trụ cao 14cm, đường kính chai 5cm, đường kính cổ chai 2,5cm, chai có nắp màu đỏ và có 02 lỗ tròn; 01 ống thủy tinh dài 3cm, một đầu thẳng, một đầu khuyết; 01 gói nhựa màu trắng có kích thước (5x3)cm; 01 bìa nhựa không còn nguyên vẹn; 01 chiếc sọt nhựa màu xanh; 01 gói giấy báo hình trụ, bên trong có 60 ống thủy tinh nhỏ màu trắng; 01 túi nylon màu xanh bên trong có nhiều bộ bài tú lơ khơ loại bài 52 lá; 01 túi nylon màu đen; 01 hộp nhựa màu trắng cao 7,3cm, đường kính 5,5cm, bên trong có chứa 31 gói nhựa màu trắng đã bị cắt một đấu; 01 chén sứ; 03 chén nhựa.

Tuyên trả lại cho Nguyễn Bá G: 01 cuôn sổ; 10 điện thoại di động màn hình cảm ứng gồm: 03 chiếc ghi chữ Iphone, 01 chiếc ghi chữ Sony, 01 chiếc ghi chữ COOLPAD, 03 chiếc ghi chữ OPPO, 01 chiếc ghi chữ Wiko, 01 chiếc không có nhãn mác; 03 chiếc đồng hồ bằng kim loại; 08 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên: Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Bà G, Phan Văn H5, Phạm Thị Thu Th1, Nông Thị Y, Nguyễn Phương Tr, Đặng A L4, Nguyễn Thị Thế H6; 03 giấy chứng minh nhân dân mang tên: Nguyễn Bá G (không có ảnh), Bùi Huy H, Nguyễn Đình Quốc Th3 (bản photo); 04 giấy phép lái xe mang tên: Nguyễn Bá Giang, Ngô Quốc Đại, Lê Minh Th, Nông Quốc V; 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Bá G; 01 giấy mua bán xe viết tay; 01 chiếc quần đùi màu đen.

Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1/2 bộ bàn ghế gỗ cà chít loại 03 tấm trị giá 7.333.000 đồng; 1/2 căn phòng sinh hoạt chung trị giá 27.215.000 đồng; 1/2 căn phòng ngủ trị giá 11.213.500 đồng, tổng số tiền 45.762.000đ.

Truy thu số tiền 300.000đ của Nguyễn Bá G là tiền G bán ma túy cho Lang Văn L3, Nguyễn Quốc V mà có sung ngân sách Nhà nước

Truy thu số tiền 1.400.000đ của Trương Ngọc B là tiền B mua ma túy của G 1.000.000đ chưa trả cho G và tiền B bán ma túy cho Nguyễn Vĩnh A, Trương Văn M mà có sung ngân sách Nhà nước.

Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, bị cáo B xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo G đề nghị Hội đồng xét xử xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án để xác định bị cáo có tội hay không có tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Xét việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Minh Th, anh Bùi Huy H, anh Võ Tuấn Q và những người làm chứng tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung, hành vi: Tại phiên tòa phần xét hỏi bị cáo Trương Ngọc B không thừa nhận mua ma túy của G nhưng phần tranh luận đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, của mình như bản cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát, vào khoảng 17 giờ ngày 26/03/2020 tại phòng ngủ thứ nhất, giáp phòng khách nhà của Nguyễn Bá G. Bị cáo nhờ G mua cho bị cáo 1.000.000 đồng ma túy đá, Nguyễn Bá G đi vào phòng đưa cho bị cáo một gói nylon màu trắng, được dán kín xung quanh, bên trong gói nylon có chứa ma túy đá. Bị cáo lấy ma túy đá trong gói nylon mà G đưa, chia nhỏ vào các gói nhựa nylon đã làm sẵn được 13 gói, rồi dùng kéo hàn (kẹp) kín cạnh còn lại. Mục đích chia nhỏ số ma túy đá để cất giấu bán lại cho người khác. Trong phòng lúc này có Trương Văn M, Nguyễn Vĩnh A, bị cáo đã bán ma túy đá cho M 300.000 đồng, A 100.000 đồng. Sau đó bị cáo lấy ra 02 gói ma túy đá trong tổng số 13 gói ma túy đã chia, rồi tổ chức cho Trương Văn M, Nguyễn Vĩnh A sử dụng hết 02 gói ma túy tại phòng ngủ thứ nhất, giáp phòng khách nhà của Nguyễn Bá G. Số tiền M, A mua ma túy đá bị cáo đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết. Đến 21 giờ 05 phút, ngày 26/03/2020 Trương Ngọc B bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp bắt quả tang thu giữ 11 gói ma túy có tổng khối lượng là 0,9420 gam, loại ma túy Methamphetamine, còn lại sau giám định 0,8406gam.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung Bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn Bá G trong quá trình điều tra không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, chỉ thừa nhận mình là người sử dụng trái phép chất ma túy, loại MDMA. Tuy nhiên, căn cứ vào các lời khai của Lang Văn L3 (bút lục 289 đến 297, 388), Nguyễn Quốc V (bút lục 316 đến 318), Trương Ngọc B (bút lục 218 đến 242, 378, 384), Võ Chí C (bút lục 277 đến 288), Nguyễn Vĩnh A ( bút lục 298 đến 315, 398), Lê Duy S (bút lục 332 đến 340, 408), Nguyễn Văn H1 (bút lục 267 đến 276, 420), Đỗ Văn T (bút lục 341 đến 343, 406). Ngày 27/03/2020 trung tâm y tế huyện E đã tiến hành xét nghiệm trong cơ thể của Nguyễn Bá G, kết quả xét nghiệm dương tính MDMA. Trong cơ thể Trương Ngọc B, Võ Tuấn Q, Trương Văn M, Võ Chí C, Nguyễn Vĩnh A. Các đối tượng đều dương tính Methamphetamin (bút lục: 437 đến 442). Kết quả phân tích dữ liệu trong ổ cứng đầu thu Camera của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk (bút lục 48 đến 94) và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định vào ngày 26/3/2020, tại phòng ăn trong nhà của Nguyễn Bá G. Nguyễn Bá G đã bán trái phép chất ma túy cho Lang Văn L3 200.000 đồng, Nguyễn Quốc V 100.000 đồng; Tại phòng ngủ thứ nhất, giáp phòng khách, G bán ma túy cho Trương Ngọc B 1.000.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho L3, V. G đã sử dụng phòng ăn trong nhà do G và chị Trương Thị N làm chủ sở hữu để tổ chức cho Lang Văn L3, Nguyễn Quốc V, Trương Ngọc B, Võ Chí C, Nguyễn Vĩnh A, Lê Duy S, Nguyễn Văn H1, Đỗ Văn T sinh ngày 09/07/2004 mới 15 tuổi 08 tháng 17 sử dụng trái phép chất ma túy. G là người đổ ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy để cho những người trên sử dụng.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp về tội danh truy tố, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ phù hợp với pháp luật.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Bá G, đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trương Ngọc B, đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nó không những trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn lôi kéo những người khác vào con đường nghiện ngập dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt các bị cáo với mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ:

Đối với bị cáo Trương Ngọc B tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên Tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo có ông nội Trương Ngọc Kh được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, huy chương kháng chiến hạng nhì và bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cũng thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Đối với bị cáo Nguyễn Bá G tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên Tòa hôm nay bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, căn cứ vào các lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Kết quả phân tích dữ liệu trong ổ cứng đầu thu Camera của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định vào ngày 26/3/2020, Nguyễn Bá G đã bán trái phép chất ma túy cho Lang Văn L3 200.000 đồng, Nguyễn Quốc V 100.000 đồng, Trương Ngọc B 1.000.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho L3, V. G là người đổ ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy, tổ chức cho Lang Văn L3, Nguyễn Quốc V, Trương Ngọc B, Võ Chí C, Nguyễn Vĩnh A, Lê Duy S, Nguyễn Văn H1, Đỗ Văn T (T sinh ngày 09/07/2004 mới 15 tuổi 08 tháng 17 ngày) sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ăn nhà G nên bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ lật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đ” Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm, thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Đối với các đối tượng sử dụng ma túy tại nhà Nguyễn Bá G không có sự trao đổi, bàn bạc, phân công nhiệm vụ đối với G và Trương Ngọc B nên không đồng phạm với G và B về tội mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử lý bằng biện pháp khác là phù hợp.

Đối với các đối tượng khai có hành vi đánh bạc tại nhà Nguyễn Bá G. Tuy nhiên Cơ quan điều tra không xác định được thời gian, con người, tiền hoặc tài sản dùng để đánh bạc nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát huyện Ea Súp không khởi tố là phù hợp

Các biện pháp tư pháp:

Về vật chứng: 0,8406gam Methamphetamine (còn lại sau giám định) đã được niêm phong; 02 chiếc kéo; 01 quẹt ga; 01 chiếc ống nhựa dài 27cm; 01 chai nhựa màu trắng hình trụ cao 14cm, đường kính chai 5cm, đường kính cổ chai 2,5cm, chai có nắp màu đỏ và có 02 lỗ tròn; 01 ống thủy tinh dài 3cm, một đầu thẳng, một đầu khuyết; 01 gói nhựa màu trắng có kích thước (5x3)cm; 01 bìa nhựa không còn nguyên vẹn; 01 chiếc sọt nhựa màu xanh; 01 gói giấy báo hình trụ, bên trong có 60 ống thủy tinh nhỏ màu trắng; 01 túi nylon màu xanh bên trong có nhiều bộ bài tú lơ khơ loại bài 52 lá; 01 túi nylon màu đen; 01 hộp nhựa màu trắng cao 7,3cm, đường kính 5,5cm, bên trong có chứa 31 gói nhựa màu trắng đã bị cắt một đầu; 01 chén sứ; 03 chén nhựa, đây là vật chứng các bị cáo mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và sử dụng vào việc phạm tội. Xét vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 cuốn sổ; 10 điện thoại di động màn hình cảm ứng gồm: 03 chiếc ghi chữ Iphone, 01 chiếc ghi chữ Sony, 01 chiếc ghi chữ COOLPAD, 03 chiếc ghi chữ OPPO, 01 chiếc ghi chữ Wiko, 01 chiếc không có nhãn mác; 03 chiếc đồng hồ bằng kim loại; 08 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên: Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Bà G, Phan Văn H5, Phạm Thị Thu Th1, Nông Thị Y, Nguyễn Phương Tr, Đặng A L4, Nguyễn Thị Thế H6; 03 giấy chứng minh nhân dân mang tên: Nguyễn Bá G (không có ảnh), Bùi Huy H, Nguyện Đình Quốc Th3 (bản photo); 04 giấy phép lái xe mang tên: Nguyễn Bá G, Ngô Quốc Đ, Lê Minh Th, Nông Quốc V; 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Bá G; 01 giấy mua bán xe viết tay; 01 chiếc quần đùi màu đen, đây là vật dụng, tài sản, giấy tờ của bị cáo Nguyễn Bá G và bị cáo giao dịch cầm cố với những người khác, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Đối với khối lượng các chất ma túy khám xét đã thu giữ được ở bên ngoài nhà Nguyễn Bá G: 10 viên nén hình vuông khắc hoa văn màu xanh lá cây, 02 viên nén hình tròn màu xanh nước biển có tổng khối lượng 5,2008gam, loại MDMA; 32,5383gam, loại Methamphetamine; 7,2111gam, loại Ketamine, Nguyễn Bá G không thừa nhận của G; 01 đầu thu hình Camera, nhãn hiệu HIKVISION đầu thu 08 cổng; 01 cục nguồn hình hộp chữ nhật; 01 chiếc hộp giấy; số tiền 3.980.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO của Nguyễn Bá G Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp có Quyết định tách vụ án hình sự số: 03/QĐ ngày 20/10/2020 và tiếp tục tạm giữ số vật chứng này để điều tra, xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô của Nguyễn Văn H1, ngày 26/03/2020 Nguyễn Bá G mượn đi, sau đó Nguyễn Bá G đã trả lại cho Nguyễn Văn H1, do chiếc xe mô tô đã cũ, bị hư hỏng nên Nguyễn Văn H1 đã bán phế liệu được 500.000 đồng, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 bộ bàn ghế gỗ cà chít loại 03 tấm trị giá 14.667.000 đồng; Căn phòng sinh hoạt chung trị giá 54.430.000 đồng; 01 căn phòng ngủ trị giá 22.427.000 đồng, tổng trị giá: 91.524.000 đồng, G đã sử dụng vào việc bán ma túy và tổ chức sử dụng ma túy, đây là tài sản chung của Nguyễn Bá G và vợ là chị Trương Thị N, việc G, B mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà, chị N không biết nên cần tịch thu 1/2 bộ bàn ghế gỗ cà chít loại 03 tấm trị giá 7.333.000 đồng; 1/2 căn phòng sinh hoạt chung trị giá 27.215.000 đồng; 1/2 căn phòng ngủ trị giá 11.213.500 đồng là phần tài sản của Nguyễn Bá G, buộc bị cáo Nguyễn Bá G phải nộp tổng số tiền 45.762.000đ sung ngân sách Nhà nước.

Truy thu số tiền 300.000đ của Nguyễn Bá G là tiền G bán ma túy cho Lang Văn L3 200.000đ, Nguyễn Quốc V 100.000đ mà có sung ngân sách Nhà nước

Truy thu số tiền 1.400.000đ của Trương Ngọc B là tiền B mua ma túy của G 1.000.000đ chưa trả cho G và tiền B bán ma túy cho Nguyễn Vĩnh A 100.000đ, Trương Văn M 300.000đ mà có sung ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá G 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá G 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 16 (Mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bắt người trong trường hợp khẩn cấp ngày 27 tháng 03 năm 2020.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Ngọc B từ 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Ngọc B từ 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bắt người phạm tội quả tang ngày 26 tháng 03 năm 2020.

Các biện pháp tƣ pháp:

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,8406gam Methamphetamine (còn lại sau giám định) đã được niêm phong; 02 chiếc kéo; 01 quẹt ga; 01 chiếc ống nhựa dài 27cm; 01 chai nhựa màu trắng hình trụ cao 14cm, đường kính chai 5cm, đường kính cổ chai 2,5cm, chai có nắp màu đỏ và có 02 lỗ tròn; 01 ống thủy tinh dài 3cm, một đầu thẳng, một đầu khuyết; 01 gói nhựa màu trắng có kích thước (5x3)cm; 01 bìa nhựa không còn nguyên vẹn; 01 chiếc sọt nhựa màu xanh; 01 gói giấy báo hình trụ, bên trong có 60 ống thủy tinh nhỏ màu trắng; 01 túi nylon màu xanh bên trong có nhiều bộ bài tú lơ khơ loại bài 52 lá; 01 túi nylon màu đen; 01 hộp nhựa màu trắng cao 7,3cm, đường kính 5,5cm, bên trong có chứa 31 gói nhựa màu trắng đã bị cắt một đầu; 01 chén sứ; 03 chén nhựa.

Tuyên trả lại cho Nguyễn Bá G: 01 cuốn sổ; 10 điện thoại di động màn hình cảm ứng gồm: 03 chiếc ghi chữ Iphone, 01 chiếc ghi chữ Sony, 01 chiếc ghi chữ COOLPAD, 03 chiếc ghi chữ OPPO, 01 chiếc ghi chữ Wiko, 01 chiếc không có nhãn mác; 03 chiếc đồng hồ bằng kim loại; 08 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên: Nguyễn Đình Q1, Nguyễn Bá G, Phan Văn H5, Phạm Thị Thu Th1, Nông Thị Y, Nguyễn Phương Tr, Đặng A L4, Nguyễn Thị Thế H6; 03 giấy chứng minh nhân dân mang tên: Nguyễn Bá G (không có ảnh), Bùi Huy H, Nguyễn Đình Quốc Th3 (bản photo); 04 giấy phép lái xe mang tên: Nguyễn Bá G, Ngô Quốc Đ, Lê Minh Th, Nông Quốc V; 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Bá G; 01 giấy mua bán xe viết tay; 01 chiếc quần đùi màu đen.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ea Súp và Chi cục thi hành án dân sự huyện E ngày 13 tháng 11 năm 2020.

Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1/2 bộ bàn ghế gỗ cà chít loại 03 tấm trị giá 7.333.000 đồng; 1/2 căn phòng sinh hoạt chung trị giá 27.215.000 đồng; 1/2 căn phòng ngủ trị giá 11.213.500 đồng là phần tài sản của Nguyễn Bá G, buộc bị cáo Nguyễn Bá G phải nộp tổng số tiền trị giá các tài sản trên là 45.762.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Truy thu số tiền 300.000đ của Nguyễn Bá G là tiền G bán ma túy cho Lang Văn L3 200.000đ, Nguyễn Quốc V 100.000đ mà có sung ngân sách Nhà nước

Truy thu số tiền 1.400.000đ của Trương Ngọc B là tiền B mua ma túy của G 1.000.000đ chưa trả cho G và tiền B bán ma túy cho Nguyễn Vĩnh A 100.000đ, Trương Văn M 300.000đ mà có sung ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Bá G, Trương Ngọc B mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ