vanban.org

Bản án 21/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 20/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, phạt bổ sung bị cáo 10.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V1 phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, phạt bổ sung bị cáo 10.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HS-PT
Ngày 20-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Văn Thịnh

Các Thẩm phán:

Bà Bùi Thị Thảo

Ông Nguyễn Đức Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hoài Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhâm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 39/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn V1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2021/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn V1, sinh năm 1987 tại huyện N, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Trịnh Thị T; có vợ Đinh Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Ngoài ra trong vụ án có 01 bị cáo; 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn V1 đã ký hợp đồng với Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình để bán các vé xổ số do Nhà nước ban hành đúng quy định. Lợi dụng vào công việc bán vé xổ số Nguyễn Văn V1 đã đánh bạc bằng hình thức đánh “số lô, số đề” trái phép với khách qua đường đến mua trực tiếp. Sau đó Nguyễn Văn V1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số xxxx.xxx…. đăng ký tài khoản zalo “A” chuyển bảng số lô, số đề đến điện thoại di động nhãn hiệu Samsung sử dụng thuê bao số xxxx.xxx…. đăng ký tài khoản Zalo “b..” cho Trịnh Văn V2. Trịnh Văn V2 đã thỏa thuận thống nhất trả % cho Nguyễn Văn V1 như sau: Mỗi “bảng số lô, số đề” Nguyễn Văn V1 chuyển cho Trịnh Văn V2 sẽ được hưởng % hoa hồng là 1.000 đồng đối với 01 điểm lô và 10% số tiền các số lô xiên, số đề. Sau khi có kết quả mở thưởng V1, V2 sẽ đối chiếu việc thắng thua nhằm có căn cứ để thanh toán tiền với nhau và những người mua chơi số lô, số đề khác.

Việc quy ước cách thức chơi đánh bạc bằng hình thức đánh “số lô, số đề” và đối chiếu việc trúng thưởng được Trịnh Văn V2 và Nguyễn Văn V1 thống nhất với những người chơi như sau:

Đối với “số đề” có hai loại, gồm loại “02 số” và loại “03 số”, người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ (từ cặp số 00 đến cặp số 99 đối với loại “02 số” và từ cặp số 000 đến cặp số 999 đối với loại “03 số” ghi trong bảng đề). Giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu, là tùy người chơi. Việc đối chiếu thanh toán được Trịnh Văn V2 thống nhất với Nguyễn Văn V1 thỏa thuận như sau là: Lấy hai số cuối của giải đặc biệt đối với loại “02 số” và 03 số cuối của giải đặc biệt đối với loại “03 số” của kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số của người chơi trùng với hai số, ba số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi trúng đề trong trường hợp này người chơi sẽ được người bán thanh toán với số tiền trúng thưởng có giá trị gấp 70 lần số tiền người “trúng đề” đã bỏ ra mua các cặp số đối với loại “02 số” và gấp 400 lần đối với loại “03 số”. Ngược lại, nếu không có người chơi nào“trúng đề” thì người bán sẽ được hưởng toàn bộ số tiền người chơi đã bỏ ra mua các cặp số trong các bảng đề. Sau khi người chơi mua số đề, V1 chuyển lại cho V2 sẽ cắt lại 10% giá trị các số đề cho V1.

Đối với “số lô” gồm có “số lô thường” và “lô xiên”

“Số lô thường” gồm: “lô Hà Nội” và “lô Ninh Bình” thì cũng tương tự như số đề người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ cặp số 00 đến cặp số 99 ghi trong “bảng lô”. Hình thức mua bán trao đổi các con số lô giữa V2 và V1 được thực hiện tương tự như mua bán trao đổi các con số đề. Việc quy ước cách thức chơi và đối chiếu trúng thưởng trong việc mua bán các số lô được V1 và V2 thống nhất với nhau và người chơi khác như sau: Lấy hai số cuối của các giải trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số của người chơi trùng với hai số cuối của một hoặc các giải thưởng trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc hôm đó thì người chơi “trúng lô”. Cứ 23.000 đồng người chơi “số lô Hà Nội” và 20.000 đồng người chơi “số lô Ninh Bình” bỏ tiền ra mua một cặp số được tính với nhau là 01 điểm, nếu trùng khớp với một giải thì được nhận 80.000 đồng đối với “số lô Hà Nội” và 70.000 đồng người chơi “số lô Ninh Bình”, nếu trùng khớp 02 giải (gọi là “hai nháy”) người chơi sẽ được nhận tối đa gấp 02 lần số tiền trúng thưởng, nếu trùng khớp với 03 giải giải (gọi là “ba nháy”) người chơi sẽ được nhận tối đa gấp 03 lần số tiền trúng thưởng. Nếu không có người chơi không “trúng lô” thì người bán được hưởng toàn bộ số tiền của người chơi đã bỏ ra mua các cặp số trong các bảng lô.

Lô xiên” gồm có “xiên 2, xiên 3, xiên 4”, khác với “lô Hà Nội” và “lô Ninh Bình”, người chơi phải lựa chọn mua hai cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 2”, ba cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 3”, bốn cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 4”, từ cặp số 00 đến 99. Giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu, là tùy người chơi, việc đối chiếu, thanh toán, cũng đối chiếu với hai số cuối của các giải trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày. Nếu hai cặp số của người chơi trùng với hai cặp số cuối của một trong các giải thưởng trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi trúng “lô xiên 2”, nếu ba cặp số của người chơi trùng với ba cặp số cuối của một trong các giải thưởng trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi trúng “lô xiên 3”, nếu bốn cặp số của người chơi trùng với bốn cặp số cuối của một trong các giải thưởng trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi trúng “lô xiên 4”. Trong trường hợp người chơi trúng phải trả cho người “trúng lô xiên 2” thì phải thanh toán cho người chơi số tiền trúng thưởng có giá trị gấp 10 số tiền người chơi đã bỏ ra mua; gấp 40 lần đối với loại “lô xiên 3” và gấp 100 lần đối với loại “lô xiên 4” đối với số tiền người chơi đã bỏ ra mua. Ngược lại, nếu không có người chơi không trúng lô xiên thì người bán các cặp số lô xiên sẽ được hưởng toàn bộ số tiền của người chơi đã bỏ ra mua các cặp số trong các bảng lô xiên.

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 15/12/2020 sau khi nhận được đơn tố giác của công dân về việc Nguyễn Văn V1 bán số lô, số đề trái phép. Công an xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình đã tiến hành triệu tập Nguyễn Văn V1 và Trịnh Văn V2 làm việc. Trịnh Văn V2 đã xóa tài khoản Zalo “b” và đăng ký tài khoản zalo mới “V” nhằm che dấu hành vi đánh bạc. Tuy nhiên quá trình làm việc Nguyễn Văn V1 và Trịnh Văn V2 đều khai nhận trong thời gian qua V1 đã lợi dụng việc bán xổ số đã bán số lô, số đề cho khách qua đường rồi nộp cho Trịnh Văn V2 nhằm thu lợi bất chính. Nguyễn Văn V1 đã giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số xxxx.xxx… và 0847.784…..; Trịnh Văn V1 đã giao nộp số tiền 15.025.000 đồng là tiền V1 tập hợp ghi bán số lô, số đề chuyển cho V2 để đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số xxxx.xxx….. và 0969.312…..

Tại bản kết luận giám định số 171/KLGĐ-KTS và ĐT ngày 28/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đăng ký tài khoản zalo “A” của Nguyễn Văn V1, ký hiệu M1 và điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đăng ký tài khoản zalo “b” của Trịnh Văn V2, ký hiệu M2 kết luận:

“1. Đối tượng gửi giám định ký hiệu M1:

- Tìm thấy 21 dữ liệu tin nhắn zalo giữa tài khoản “A” với tài khoản “b” (được lưu trong danh bạ là “V”) lưu trữ trong máy điện thoại liên quan đến việc mua bán số lô, số đề trong thời gian từ ngày 10/12/2020 đến ngày 15/12/2020.

(Chi tiết dữ liệu được thể hiện trong phụ lục gửi kèm theo)

- Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn zalo giữa tài khoản “A” với tài khoản “b” (được lưu trong danh bạ zalo “V” lưu trữ trong 02 thẻ sim liên quan đến việc mua bán số lô, số đề trong thời gian từ ngày 10/12/2020 đến ngày 15/12/2020.

2. Đối tượng gửi giám định ký hiệu M2:

- Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn zalo giữa tài khoản “b” với tài khoản “A” (được lưu trong danh bạ zalo “H” lưu trữ trong máy điện thoại và 02 thẻ sim liên quan đến việc mua bán số lô, số đề trong thời gian từ ngày 10/12/2020 đến ngày 15/12/2020”.

Cơ quan điều tra đã chứng minh trong khoảng thời gian từ ngày 12/12/2020 đến ngày 14/12/2020, Nguyễn Văn V1 và Trịnh Văn V2 đã thực hiện hành vi “Đánh bạc” dưới hình thức mua bán số lô, số đề cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 12/12/2020, Nguyễn Văn V1 đã bán cho khách 08 số lô Hà Nội; 156 số đề loại 2 số; 01 số đề loại 3 số và 03 số lô xiên 2 với tổng số tiền là 3.180.000 đồng. Sau đó tập hợp vào bảng số lô, số đề chuyển cho Trịnh Văn V2. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 12/12/2020 xác định các số lô, số đề trúng thưởng gồm: 01 số lô Hà Nội trúng 20 điểm x 80.000 đồng/01 điểm = 1.600.000 đồng; 01 số đề trúng thưởng số tiền 5.250.000 đồng.

Như vậy trong ngày 12/12/2020, Trịnh Văn V2 và Nguyễn Văn V1 sử dụng tổng số tiền đánh bạc là: 10.030.000 đồng. Nguyễn Văn V1 được hưởng % hoa hồng là 246.000 đồng.

Lần thứ hai: Ngày 13/12/2020, Nguyễn Văn V1 đã bán cho khách 01 số lô Ninh Bình; 07 số lô Hà Nội; 148 số đề loại 2 số với tổng số tiền là 4.330.000 đồng. Sau đó tập hợp vào bảng số lô, số đề chuyển cho Trịnh Văn V2. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 13/12/2020 xác định các số lô, số đề trúng thưởng gồm: 02 số lô Hà Nội trúng 16 điểm x 80.000 đồng/01 điểm = 1.280.000 đồng; 01 số lô Ninh Bình trúng thưởng 20 điểm x 70.000 đồng/01 điểm = 1.400.000 đồng; 01 số đề trúng thưởng số tiền 700.000 đồng.

Như vậy trong ngày 13/12/2020, Trịnh Văn V2 và Nguyễn Văn V1 sử dụng tổng số tiền đánh bạc là: 7.710.000 đồng. Nguyễn Văn V1 được hưởng % hoa hồng là 329.000 đồng.

Lần thứ ba: Ngày 14/12/2020, Nguyễn Văn V1 đã bán cho khách 05 số lô Ninh Bình; 08 số lô Hà Nội; 156 số đề loại 2 số; 01 số đề loại 3 số với tổng số tiền là 4.569.000 đồng. Sau đó tập hợp vào bảng số lô, số đề chuyển cho Trịnh Văn V2. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 14/12/2020 xác định các số lô, số đề trúng thưởng gồm: 03 số lô Hà Nội trúng 26 điểm x 80.000 đồng/01 điểm = 2.080.000 đồng; 02 số lô Ninh Bình trúng thưởng 45 điểm x 70.000 đồng/01 điểm = 3.150.000 đồng.

Như vậy trong ngày 14/12/2020, Trịnh Văn V2 và Nguyễn Văn V1 sử dụng tổng số tiền đánh bạc là: 9.799.000 đồng. Nguyễn Văn V1 được hưởng % hoa hồng là 306.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V1 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên tội danh “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Trịnh Văn V2 06 tháng tù; xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021 bị cáo Nguyễn Văn V1 có đơn kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương.

Tại phiên tòabị cáo Nguyễn Văn V1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo với lý do mức hình phạt bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, xét vai trò của bị cáo trong vụ án và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V1 và giữ nguyên các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2021/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Văn V1 phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 20/4/2021 bị cáo Nguyễn Văn V1 có đơn kháng cáo xin được cải tạo tại địa phương. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V1 hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn V1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo Trịnh Văn V2, phù hợp với Kết luận giám định số 171/KLGĐ-KTS và ĐT ngày 28/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đối với thoại di động nhãn hiệu OPPO đăng ký tài khoản zalo “A” của Nguyễn Văn V1 và điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đăng ký tài khoản zalo “b” của Trịnh Văn V2 cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 12/12/2020 đến ngày 14/12/2020 bị cáo Nguyễn Văn V1 đã lợi dụng việc làm hợp đồng bán xổ số cho Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết miền Bắc tỉnh Ninh Bình đã ba lần có hành vi bán các số lô, số đề trái phép cho khách đi đường sau đó tập hợp thành “Bảng số lô, số đề” và sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đăng ký tài khoản zalo “A” gửi đến điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đăng ký tài khoản zalo “b” của Trịnh Văn V2 để hưởng % hoa hồng từ việc bán số lô, số đề trái phép. Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc mua bán các số lô, số đề và trả tiền trúng thưởng lần thấp nhất là 7.710.000 đồng, lần nhiều nhất là 10.030.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V1 xin được cải tạo tại địa phương Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đã 03 lần tổng hợp bảng số lô, số đề trái phép sau đó sử dụng điện thoại di động chuyển các số lô, số đề cho Trịnh Văn V2. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sựxử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 06 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, không nặng. Trong quá trình chuẩn xét xử và tại phiên tòa phúc thẩmbị cáo không xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới do đó Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được cải tạo tại địa phương cần giữ nguyên các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt tù.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V1 không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 củaBộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V1, giữ nguyên các quyết định bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 20/7/2021.

Cỡ chữ