vanban.org

Bản án 21/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Phạm Xuân Ph.

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Xuân Ph. Về con chung của vợ chồng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn Nguyễn Thị H và Phạm Xuân Ph"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Phạm Xuân Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 22 - 7 - 2021
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Khai

Ông Trần Xuân Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐST- DS ngày 05/10/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1985.

Nơi ĐKHKTT: Xóm 9, xã L, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

Hiện tạm trú tại: Cửa hàng đồ gỗ Minh Q, đại lộ Bình Dương, Quốc lộ 13, phường G, thành phố A, tỉnh Bình Dương (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Xuân Ph, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Thôn N, xã Phong H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17/03/2021, bản tự khai ngày 19/5/2021 của chị Nguyễn Thị H và biên bản lấy lời khai ngày 02/6/2021 đối với anh Phạm Xuân Ph thì chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph khai: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở do hai bên hoàn toàn tự nguyện không có ai ép buộc, đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình vào ngày 26/01/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại nhà bố mẹ chồng ở tại thôn N, xã Phong H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp thường xuyên bất đồng quan điểm cãi vã lẫn nhau mà không khắc phục được, từ đó tình cảm vợ chồng không còn nên hai bên tự sống ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay chị Nguyễn Thị H vào làm ăn tại tỉnh Bình Dương, anh Phạm Xuân Ph vào làm ăn tại thành phố Đà Nẵng. Chị Nguyễn Thị H à anh Phạm Xuân Ph hai bên đều nhất trí tự nguyện ly hôn.

Về con chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph thừa nhận vợ chồng chưa có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng : Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph khai vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị Nguyễn Thị H đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số 0000050 ngày 22/3/2021 nay xin chịu toàn bộ.

Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị H và triệu tập hai bên đương sự đến tại trụ sở Tòa án huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình để giải quyết nhưng chỉ có mặt chị H, sau đó chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn anh Ph không có mặt. Chị H đã cung cấp địa chỉ nơi đăng ký tạm trú của anh Phạm Xuân Ph tại địa chỉ số nhà 118, đường B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã tiến hành lấy lời khai của anh P và anh P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu tại phiên tòa đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết chị Nguyễn Thị H đều có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án còn anh Phạm Xuân Ph vắng mặt, Tòa án đã tiến hành thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Xuân Ph. Về con chung, tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng không có nên đề nghị đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị H đã nộp số tiền 300.000đ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Phạm Xuân Ph có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã Phong H, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị H có mặt và viết bản tự khai, anh Phạm Xuân Ph vắng mặt và đã được Tòa án ủy thác thu thập chứng đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Hạnh và anh Phương đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì cả hai đang nằm trong vùng dịch bệnh nên không về tham gia phiên tòa được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph tìm hiểu để đi đến kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng do trong quá tình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống mà không thể khắc phục được nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay hai bên đều nhất trí tự nguyện thỏa thuận xin được ly hôn vì tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của cả hai bên là hoàn toàn phù hợp, nhưng do chị H và anh Ph đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình để công nhận sự tự nguyện thỏa thuận ly hôn của hai bên đương sự mà phải áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xét xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Xuân Ph.

Về con chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph thừa nhận vợ chồng chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số: 0000050 ngày 22/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình nay phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Phạm Xuân Ph.

Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph.

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phạm Xuân Ph.

2. Về con chung của vợ chồng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền mà chị Nguyễn Thị H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000050 ngày 22/03/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Như vậy chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ khoản án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Xuân Ph. Tuyên bố chị H, anh Ph có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ