vanban.org

Bản án 21/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Điề u 147; khoản 1 Điề u 227; Điề u 228 của Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 51; Điều 53; Điề u 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luậ t hôn nhân và gia đì nh ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộ…

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn anh Đinh Bá B. Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Quế A, sinh ngày 21/01/2016 cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chung chị Nh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Nh, Đinh Bá B"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Điề u 147; khoản 1 Điề u 227; Điề u 228 của Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 51; Điều 53; Điề u 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luậ t hôn nhân và gia đì nh ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộ…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TH
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 12/11/2021
Về việc: “Tranh chấp hôn nhân
và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH - TỈNH B

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Lợi.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Th - tỉnh B.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Th - tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 12/11/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Th - tỉnh B mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 117/2021/TLST-HNGĐ ngày 09/8/2021 về việ c “Tranh chấ p hôn nhân và gia đì nh” . Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/10/2021, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1973.

Nơi ĐKHKTT: Thôn D - xã X - huyện Th - tỉnh B.

Chỗ ở hiện nay: Thôn B - xã T - huyện Kh - tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Đinh Bá B, sinh năm 1975.

Trú tại: Thôn D - xã X - huyện Th - tỉnh B. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của chị Nguyễn Thị Nh thì nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:

Về quan hệ hôn nhân : Chị Nguyễn Thị Nh với anh Đình Bá B quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau là hoàn toàn tự nguyện. Được sự nhất trí của hai bên gia đình chị Nh với anh B đã tổ chức hôn lễ theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 29/12/2014 tại Ủy ban nhân dân xã X - huyện Th - tỉnh B. Sau khi kết hôn chị Nh về nhà anh B ở thôn D - xã X - huyện Th - tỉnh B làm dâu và làm ăn sinh sống ngay. Ban đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc nhưng thời gian sau đó thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn, sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau khiến cho cuộc sống gia đình hết sức càng căng thẳng và vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khi vào ngày 23/6/2021, anh Bình dùng vũ lực đánh chị Nh nên chị Nh đã đem theo con nhỏ bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn B - xã T - huyện Kh - tỉnh H và chị Nh đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ với anh B từ đó cho đến nay. Nay, chị Nh xác định đã sống ly thân với anh B nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Nh và anh B không thể về đoàn tụ để tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó, chị Nh yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Đinh Bá B.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nh xác định trong thời gian chung sống giữa chị Nh với anh Đình Bá B có với nhau 01 con chung là cháu Đình Quế A, sinh ngày 21/01/2016. Hiện nay, cháu A đang ở cùng với chị Nh, được chị Nh nuôi dưỡng, chăm sóc phát triển khỏe mạnh nên ly hôn chị Nhung có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nhận nuôi con chung là cháu Anh. Về cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn chị Nhung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất nông nghiệp và công sức đóng góp trong thời gian chung sống: Chị Nguyễn Thị Nh xác nhận không có vướng mắc gì về tài sản chung, tài sản riêng, đất nông nghiệp, công sức đóng góp trong thời gian chung sống với anh Đinh Bá B, chị Nh và anh B không vay mượn của ai và không cho ai vay mượn gì nên chị Nh không yêu cầ u Tòa án xem xét giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họ p kiểm tra việ c giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng do anh Đinh Bá B mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để làm việc và có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tò a á n đã tiế n hà nh kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắ ng mặ t anh B và lập biên bản không tiế n hà nh hò a giả i đượ c.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn anh Đinh Bá B cũng như xin được trực tiếp nhận nuôi con chung là cháu Đinh Quế A và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn. Anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa và ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Cũng tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và của những người tham gia tố tụng : Thẩm phán đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và thời hạn theo quy định của pháp luật. Việ c ra cá c văn bả n tố tụ ng của Thẩm phán cũ ng như cá c thủ tụ c tố tụ ng tạ

i phiên tò a của Hội đồng xét xử đã tuân thủ đú ng quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng dân sự . Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh và bị đơn anh Đinh Bá B thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Do anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa và ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tò a á n mở phiên tò a xé t xử vắ ng mặ t đố i vớ i anh Bình là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nộ i dung: Áp dụng Điều 147; khoản 1 Điề u 227; Điề u 228 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự ; Điều 51; Điều 53; Điề u 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luậ t hôn nhân và gia đì nh và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội . Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Về quan hệ vợ chồ ng: Chị Nguyễn Thị Nh đượ c ly hôn anh Đinh Bá B.

Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Quế A cho chị Nguyễn Thị Nh được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn do chị Nh không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về á n phí : Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụ ng : Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với anh Đinh Bá B, nhưng anh B không đến Tòa án để làm việc và có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tại tất các các buổi làm việc cũng như tại các phiên tòa xét xử vụ án. Do đó, căn cứ và o khoả n 1 Điề u 227 của Bộ luậ t tố tụ ng dân sự Tò a á n vẫ n tiế n hà nh xé t xử vụ á n vắng mặt anh B theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh kết hôn vớ i với anh Đình Bá B vào ngày 29/12/2014. Trước khi kết hôn chị Nh và anh B có được tự do tìm hiểu và làm thủ tục đăng ký kế t hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã X - huyện Th - tỉnh B. Việ c kế t hôn đã tuân thủ đầ y đủ cá c quy đị nh củ a phá p luậ t nên hôn nhân củ a chị Nh và anh B là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu xin cầ u ly hôn củ a chị Nguyễn Thị Nh đố i vớ i anh Đinh Bá B, Hộ i đồ ng xé t xử thấ y rằ ng : Cuộ c số ng vợ chồ ng giữ a chị Nh với anh B đã xảy ra mâu thuẫn sau khi kết hôn và về chung sống với nhau được một thời gian mà nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn và sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau khiến cho cuộc sống gia đình hết sức càng căng thẳng và vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khi vào ngày 23/6/2021, anh B dùng vũ lực đánh chị Nh nên chị Nh đã đem theo con nhỏ bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn B - xã T - huyện Kh - tỉnh H và vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ nên tì nh cả m vợ chồ ng không cò n . Quá trình giải quyết v ụ án, Tòa án đã tiến hành triệ u tậ p và tống đạt các văn bản tố tụng đố i vớ i anh B nhưng anh B không lên Tòa án để giải quyết mà có ý kiến đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt . Như vậ y, mục đích hôn nhân giữa chị Nh với anh B không đạ t đượ c nên căn cứ theo Điề u 56 Luậ t hôn nhân và gia đì nh c ần chấ p nhậ n yêu cầ u xin ly hôn củ a chị Nh là phù hợp.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nh với anh Đinh Bá B có 01 con chung là cháu Đinh Quế A, sinh ngày 21/01/2016. Quá trình giải quyết vụ án chị Nh có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nhận nuôi con chung là cháu A. Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay cháu A đang sinh sống cùng chị Nh được chị Nh chăm sóc phát triển khỏe mạnh bình thường và anh B cũng đã có ý kiến đồng ý giao con chung là cháu A cho chị Nh nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao cháu A cho chị Nh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp. Cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn do chị Nh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất nông nghiệp và công sức đóng góp trong thời gian chung sống: Chị Nguyễn Thị Nh xác định giữa chị với anh Đinh Bá B không có vướ ng mắ c gì nên không yêu cầ u Tòa án xem xét giải quyết. Vì vậy, Hộ i đồ ng xé t xử cũng không đề cậ p xem xé t.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điề u 147; khoản 1 Điề u 227; Điề u 228 của Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 51; Điều 53; Điề u 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luậ t hôn nhân và gia đì nh ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn anh Đinh Bá B.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Quế A, sinh ngày 21/01/2016 cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chung chị Nh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Anh Đinh Bá Bình được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồ ng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồ ng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2020/0003851 ngày 09 tháng 8 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Th - tỉnh B.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mườ i lăm ) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mườ i lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ