vanban.org

Bản án 21/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Huỳnh Thị Kim T được ly hôn ông Nguyễn Ngọc S. [2] Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 09/02/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T xin ly hông S"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ L
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 21/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23/3 /2021.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Phú Phƣớc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Vũ Anh Kiệt và ông Nguyễn Văn Quang

Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nữ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 374/2020/TLST-HNGĐ, ngày 15/12/2020, về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/02/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 10/3/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim T, sinh năm: 1997. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Hồ T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1991. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 9, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Ngọc S đăng ký kết hôn năm 2016 tại UBND phường Bình Tân, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do ông S không đưa tiền lo cho gia đình, xúc phạm mẹ vợ, uống rượu nói bậy rồi vợ chồng cải nhau. Hiện vợ chồng đã ly thân, mạnh ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S

Về con chung: Vợ chồng có với nhau được 01 người con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 09/02/2018. Nếu ly hôn, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất lời trình bày của bà T về thời điểm đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng. Ngoài ra ông còn tát vợ. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý vì lý do ông còn thương vợ con và mong muốn được đoàn tụ để vợ chồng sum họp.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Ngọc H. Nếu ly hôn ông đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng phiên tòa sơ thẩm; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim T được ly hôn ông Nguyễn Ngọc S. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Bà Huỳnh Thị Kim T khởi kiện ông Nguyễn Ngọc S về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Bị đơn ông S có nơi cư trú tại khu phố 9, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn ông S đã được Toà án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung là phù hợp quy định của Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Về con chung: bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc H và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa bà T và ông S tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND phường Bình Tân, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống giai đoạn đầu vợ chồng sống hạnh phúc được mop65t thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do ông S uống rượu, xúc phạm mẹ vợ, bạo hành gia đình, bất đồng quan điểm sống và ly thân mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên việc vợ chồng hàn gắn là rất khó. Ngoài ra, ông S thừa nhận là vợ chồng có mâu thuẫn nhưng ông S không có thiện chí giữ gìn quan hệ hôn nhân, cũng như giữa ông, bà không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những căn cứ trên, nhận thấy mâu thuẫn giữa ông S và bà T đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T ly hôn ông S là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Huỳnh Thị Kim T được ly hôn ông Nguyễn Ngọc S.

[2] Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 09/02/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Huỳnh Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng bà T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0004685 ngày 07/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ