- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Mai L phạm tội “ Đánh bạc ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:21/2020/HSST Ngày: 27/04/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Mai Linh
-Các Hội thẩm nhân dân : Ông Phạm Quốc Trung và bà Phạm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa : Bà Bùi Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27/04/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2020 đối với bị cáo:
1. Bị cáo Mai L, sinh ngày 11/04/1976
Nơi cư trú: Tổ a, phường Đ, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa : 11/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo : Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Mai P, sinh năm 1940; Con bà : Vũ Thị Minh L, sinh năm 1950; Con : Mai Đức T, sinh năm 2005; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự : Không
Nhân thân: Ngày 23/05/2006 Tòa án nhân dân TP Hòa Bình xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng về tội Chống người thi hành công vụ.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/12/2019 đến ngày 24/02/2020, nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 17/2/2019 bị cáo bán lô tô, sổ xố ngoài ra còn bán thêm các số lô, số đề trái quy định Nhà nước tại khu vực vỉa hè thuộc tổ a, phường Đ, thành phố Hòa Bình cho những người qua đường không quen biết với tổng số tiền thu được là 1.784.000đ ( Một triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng ). Sau khi bán được các số lô số đề trái quy định Nhà nước L ghi vào 01 bảng tổng hợp
Đến khoảng 17 giờ 35 phút cùng ngày, Nguyễn Tiến H, SN 1998, trú tại tổ b, phường T, thành phố Hòa Bình đến chỗ Lngồi bán số lô số đề đặt vấn đề mua các số đề 26, 62, 36, 63 mỗi số 50.000đồng và được L khuyến mại mỗi số đề 5.000đồng, thành tiền 220.000đồng; số đề 82 với giá 150.000đồng, khuyến mại thêm 15.000đồng, thành tiền 165.000đồng; số đề 48, 84 mỗi số 100.000đồng, khuyến mại thêm 20.000đồng, thành tiền 220.000đồng; mua số lô 26, 62 mỗi số 30 điểm, thành tiền 1.350.000đồng; số lô 48, 84 mỗi số 20 điểm, thành tiền 900.000đồng. Mai L đồng ý và viết tích kê đưa cho Htrừ tiền khuyến mại H đã thanh toán trả L số tiền 2.800.000đ ( Hai triệu tám trăm nghìn đồng ). Như vậy tổng số tiền L và H đánh bạc là 2.855.000đ ( Hai triệu tám trăm năm mươi năm nghìn đồng )
Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Văn V, SN 2001, trú tại tổ b, phường T, thành phố Hòa Bình đến đặt vấn đề mua số lô số đề với L, L đồng ý bán cho V các số lô 45, 63 mỗi số 50 điểm, thành tiền 2.250.000đồng; số lô 49 với 10 điểm, thành tiền 225.000đồng; số đề 49, 53 mỗi số 50.000đồng và được khuyến mại thêm 20.000đồng, thành tiền 120.000đồng; số đề 45 với 10.000đồng được khuyến mại 2.000đồng, thành tiền 12.000đồng. L viết vào tích kê giao cho V, trừ số tiền khuyến mại V phải thanh toán cho L 2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm nghìn đồng ). Như vậy tổng số tiền L và V đánh bạc là 2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm linh bảy nghìn đồng )
Trong lúc V thanh toán tiền cho L thì bị tổ công tác Công an thành phố Hòa Bình kiểm tra lập Biên bản vi phạm hành chính thu giữ 01 tờ tích kê ghi số lô số đề; 2.607.000đ (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng ) tiền Việt Nam và 01 bảng tổng hợp ghi số lô số đề L đã bán được trong ngày 17/12/2019.
Trước Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận bản thân là Thư ký bán các số lô số đề sau đó chuyển bảng tổng hợp các số lô số đề cho Bùi Ngọc Hòa, SN 1971, trú tại tổ b, phường Đ, thành phố Hòa Bình qua hình thức nhắn tin SMS để hưởng lợi bất chính. Trong ngày 17/12/2019 bị cáo chưa kịp chuyển bảng tổng hợp số lô số đề cho Hòa thì bị công an phát hiện, lập biên bản về hành vi vi phạm. Bị cáo cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân ngày 17/12/2019 phù hợp với các chứng cứ tài liệu đã thu thập được. Tổng số tiền bị cáo tham gia dánh bạc trong vụ án là 5.462.000đ ( Năm triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn đồng )
Trong quá trình điều tra bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền 4.639.000đ ( Bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng) là tiền bị cáo bán các số lô số đề cho Nguyễn Tiến H và những người đi đường trước đó.
Tại thông báo kết quả giám định tiền số 17/TB-HB1 ngày 07/01/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Hòa Bình kết luận: “iền thật do Ngân hàng Nhà nước phát hành gồm 11 tờ bạc Polymer, Cotton tổng số ; 2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm nghìn đồng)”. Tại thông báo kết quả giám định tiền số 18/TB-HB1 ngày 07/01/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Hòa Bình kết luận : “ Tiền thật do Ngân hàng Nhà nước phát hành gồm 16 tờ bạc Polymer, Cotton tổng số 4.639.000đ ( Bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng )”
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 11/03/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố Mai L về tội “ Đánh bạc ” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc ”.
Căn cứ : Khoản 1 điều 321; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, 50 của BLHS
Xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng :
Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tịch thu sung công quỹ Nhà nước :
Số tiền 2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm nghìn đồng ) là tiề bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và 4.639.000đ ( bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng ) là tiền thu lời bất chính do bị cáo tự nguyện giao nộp.
Bị cáo phải nộp án phí HSST
Phần tranh luận : Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo : Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận ngày ngày 17/12/2019 đã có hành vi bán số lô số đề trái quy định Nhà nước cho các đối tượng Nguyễn Tiến H với tổng số tiền 2.855.000đ ( Hai triệu tám trăm năm mươi năm nghìn đồng ) và Nguyễn Văn V với tổng số tiền 2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm linh bảy nghìn đồng). Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị đã phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS
Ngoài ra bị cáo còn khai nhận trong ngày 17/12/2019 bị cáo cũng đã bán được các số lô số đề trái quy định Nhà nước cho những khách qua đường không quen biết với số tiền 1.784.000đ (Một triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng ), tuy nhiên do chưa xác minh được tên tuổi, địa chỉ của những khách qua đường nên trong vụ án này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.462.000đ ( Năm triệu bốn trăm sáu mươi hai nghì đồng ) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố là đúng người, đúng tội.
. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội và nếp sống văn minh đô thị tại địa phương. Đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi bán số lô số đề trái quy định Nhà nước là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi nên cố tình thực hiện.
Về nhân thân : Bị cáo có 01 tiền án về tội Chống người thi hành công vụ, đã được xóa án tích.
Vì vậy cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình xét thấy: Trong quá trình điểu tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự giác giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 4.639.000đ ( Bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng ) nên bị cáo được hường các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 điều 51 BLHS.
Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, số tiền bị cáo dùng để đánh bạc không lớn. Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về các hành vi, tình tiết khác của vụ án:
[ 4.2 ] Đối với Nguyễn Tiến H và Nguyễn Văn V là những đối tượng tham gia đánh bạc với bị cáo. Xét hành vi của H và V chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố Hòa Bình đã lập Biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với H và V về hành vi mua các số lô số đề là đúng
Đối với đối tượng có tên Hòa, theo bị cáo khai sau khi bán được số lô số đề bị cáo tổng hợp lại và chuyển bảng tổng hợp qua hình thức tin nhắn SMS cho Hòa. Do chưa cón căn cứ làm rõ hành vi đánh bạc của đối tượng tên Hòa, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
. Về xử lý vật chứng :
Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc gồm: số tiền 2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm nghìn đồng ) bị cáo đánh bạc với Nguyễn Văn V và 4.639.000đ ( Bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng ) mà bị cáo tự nguyện giao nộp trong đó có 2.855.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi năm nghìn đồng ) bị cáo đánh bạc với Nguyễn Tiến H và 1.784.000đ ( Một triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng ) tiền thu lợi bất chính.
Đổi với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J4 màu đen thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Toàn bộ các vật chứng trên được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số 54/BB ngày 18/03/2020
Tiếp tục lưu giữ 02 tích kê ghi số lô số đề trái quy định Nhà nước thu giữ của Nguyễn Tiến H và Nguyễn Văn V và 01 bảng tổng hợp ghi số lô số đề trái quy định của bị cáo trong Hồ sơ vụ án.
. Về án phí và quyền kháng cáo : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố : Bị cáo Mai L phạm tội “ Đánh bạc ”
2. Căn cứ : Khoản 1 điều 321; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 của BLHS
Xử phạt bị cáo Mai L 20.000.000đ ( Hai mươi triệu đồng )
3.Về xử lý vật chứng :
Áp dụng điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền :
2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm nghìn đồng ) được niên phong trong 01 ( một ) phong bì được đánh số thứ tự “ 01”, mặt trước phong bì ghi số tiền 2.607.000đ ( Hai triệu sáu trăm nghìn đồng ).
4.639.000đ ( Bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng ) được niêm phong trong 01 ( một ) phong bì được đánh số thứ tự “ 02 ”, mặt trước phong bì ghi số tiền 4.639.000đ ( Bốn triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng ).
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung J4 màu đen,
Toàn bộ các vật chứng trên được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số 54/BB ngày 18/03/2020 giữa Công an thành phố Hòa Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình.
Tiếp tục lưu giữ 02 tích kê ghi số lô số đề trái quy định Nhà nước thu giữ của Nguyễn Tiến H và Nguyễn Văn V và 01 bảng tổng hợp ghi số lô số đề trái quy định của bị cáo trong Hồ sơ vụ án.
4.Về án phí :
Áp dụng Điều 136 BLTTHS
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND thành phố HB; - VKSND tỉnh HB; - Công an thành phố HB; - Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án DS TPHB; - UBND xã, phường nơi các bị cáo cư trú - Bị cáo - Lưu hồ sơ, án văn. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán, Chủ Tọa phiên tòa Bùi Thị Mai Linh |