vanban.org

Bản án 21/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 30/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thị Th phạm tội “Đánh bạc”.

Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp: Xử phạt Bị cáo Phùng Thị Th 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với Phùng Thị Thủy - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thị Th phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày 30 - 9 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2020/TLST- HS ngày 22 tháng 9 năm 2020 (Vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn); Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 9 năm 2020 đối với Bị cáo:

Họ và tên: PHÙNG THỊ TH (tên gọi khác: Không)

Sinh ngày 23 tháng 12 năm 1981; tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ĐKNKTT: khu M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: khu X 2, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ văn hoá: 9/12 Dân tộc: Mường;

Giới tính: Nữ

Tôn giáo: Không.

Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Phùng Văn H, sinh năm 1953 và bà: Hà Thị T, sinh năm: 1953.

Chồng: Trương Văn N, sinh năm 1982; Con: Có 02 con (lớn sinh năm: 2000, nhỏ sinh năm: 2010).

Tiền án/tiền sự: Không.

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.

Bị cáo hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh NLQ1, sinh năm 2002 (vắng mặt);

Địa chỉ: xóm X 2, xã K, huyện T, tỉnh Phú thọ;

+ Anh Xa Trọng NLQ2, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Địa chỉ: xóm C 1, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 29/8/2020, Phùng Thị Th có hành vi bán số lô cho anh Xa Trọng NLQ2 và Hà Đức NLQ1 tại nhà ở của mình tại: xóm X, xã K.

Cụ thể: Th bán cho NLQ2 các số lô: 48 và 84 mỗi số 100 điểm, hai số là 200 điểm (23.000đ/1 điểm) thành tiền là: 4.600.000đ; Th bán cho NLQ1 các số lô: 32 là 20 điểm, 54 là 10 điểm; hai số là 30 điểm (23.000đ/1 điểm) thành tiền là: 690.000đ. Tổng số tiền mà Th bán số lô cho NLQ2 và NLQ1 là: 5.290.000đ.

Các bên thỏa thuận hình thức đánh bạc là mua, bán số lô và tỷ lệ được thua bằng tiền như sau: Người mua số lô lựa chọn các số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99 để mua, tương ứng với 01 điểm lô người mua phải trả số tiền là 23.000đ. Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày hôm đó, người chơi so kết quả hai số cuối của tất cả các giải. Nếu số lô người chơi đã mua trùng với hai số cuối của các giải thì người mua được lô (thắng bạc) và được Th trả thưởng số tiền 80.000đ/01 điểm lô; ngược lại nếu số lô người chơi đã mua không trùng với hai số cuối các giải đã nêu trên thì bị thua bạc và mất số tiền mình đã bỏ ra mua số lô. Số tiền này Th sẽ được hưởng. Thời điểm các đối tượng bị phát hiện, chưa có kết quả trúng thưởng.

Tổ công tác Công an huyện T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ trên tay Th 01 quyển sổ bìa màu đen, bên trong có ghi các chữ và số viết tay, 01 bút bi màu đen, 01 túi sách màu đen bên trong có số tiền: 6.200.000đ. Quá trình điều tra xác minh, làm rõ số tiền 5.290.000đ là tiền Th bán số lô cho Xa Trọng NLQ2 và Hà Đức NLQ1; còn số tiền 910.000đ là tiền bán hàng của gia đình Th, không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

2. Các vấn đề khác:

Ngày 01/9/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số: 30; Quyết định khởi tố bị can số: 56; Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Phùng Thị Th về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (nay viết tắt là BLHS năm 2015).

Đối với Xa Trọng NLQ2 và Hà Đức NLQ1 là hai đối tượng đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô ngày 29/8/2020 nhưng số tiền NLQ2 sử dụng vào việc đánh bạc là 4.600.000đ và NLQ1 sử dụng vào đánh bạc là 690.000đ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, các đối tượng chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Nên ngày 17/9/2020, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với NLQ2 và NLQ1 về hành vi đánh bạc là phù hợp.

3. Về trích dẫn Cáo trạng/Quyết định truy tố của Viện kiểm sát:

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 02/QĐ-VKSTS ngày 21/9/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Phùng Thị Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35 của BLHS năm 2015. Xử phạt Bị cáo Phùng Thị Th từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo Th.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo Phùng Thị Th theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 45 ngày 01/9/2020 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 105, Khoản 1, Điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.290.000đ, do Bị cáo Th phạm tội mà có; Tịch thu, tiêu hủy: 01 bút bi màu đen, 01 túi sách màu đen (thu của Th).

01 quyển sổ màu đen có ghi các con số, là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của Bị cáo và tài liệu chứng cứ chứng minh cho tội phạm cần tịch thu, lưu hồ sơ.

Xác nhận ngày 01/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho Phùng Thị Th số tiền 910.000đ (chín trăm mười nghìn đồng) do không liên quan đến tội phạm.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc Bị cáo Phùng Thị Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm .

4. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội.

Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo Phùng Thị Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố đã nêu; thừa nhận Quyết định truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai của Bị cáo thống nhất, phù hợp với vật chứng thu được cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Như vậy đã xác định được: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 29/8/2020, Phùng Thị Th đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô cho Xa Trọng NLQ2 với số tiền 4.600.000đ và Hà Đức NLQ1 với số tiền 690.000đ. Tổng số tiền mà Th bán số lô cho NLQ2 và NLQ1 là: 5.290.000đ.

Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện.

Từ các nhận định trên đã đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Phùng Thị Th thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015;

Tại khoản 1 Điều 321 của BLHS năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các

tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

thấy rằng:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; tại Phiếu kết quả siêu âm ngày 29/8/2020 của Trung tâm y tế huyện T đã kết luận Bị cáo đang có thai 08 tuần 06 ngày tuổi. Do đó, Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Th có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên quyết định cho Bị cáo hình phạt tiền ở mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định và cũng là mức thấp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng là hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 5.290.000đ do Bị cáo bán số lô mà có đây là số tiền do Bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

- 01 quyển sổ bìa màu đen, bên trong có ghi các chữ và số viết tay, là vật chứng chứng minh tội phàm tịch thu lưu hồ sơ;

- 01 bút bi màu đen, 01 túi sách màu đen là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- Cơ quan CSĐT đã trả cho Bị cáo số tiền 910.000đ, không liên quan đến tội phạm là phù hợp cần xác nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp, nên được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ kết tội:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35 của BLHS năm 2015.

- Tuyên bố: Bị cáo Phùng Thị Th phạm tội “Đánh bạc”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:

- Xử phạt Bị cáo Phùng Thị Th 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo Th.

- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo Phùng Thị Th theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 45 ngày 01/9/2020 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 105, khoản 1, điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.290.000đ (năm triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng), do Bị cáo Th phạm tội mà có.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bút bi màu đen, 01 túi sách màu đen (thu của Th).

Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện T ngày 29/9/2020.

- Tịch thu, lưu hồ sơ vụ án: 01 quyển sổ màu đen có ghi các con số (thu của Th) – bút lục số: 14.

- Xác nhận ngày 01/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại cho Phùng Thị Th số tiền 910.000đ (chín trăm mười nghìn đồng).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Buộc Bị cáo Phùng Thị Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm .

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện, tỉnh;

- Sở Tư pháp tỉnh;

(đã ký)

- CQ CSĐT Công an huyện;

- CQ THA dân sự huyện;

- UBND nơi b/c thường trú;

- Những người tham gia tố tụng;

Nguyễn Thị Hồng Mai

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ