vanban.org

Bản án 21/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Thào A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Thào A N 11( Mười một ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 15/12/2019 ( Ngày bắt giữ bị cáo ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 21/2020/HSST.
Ngày: 27 - 4 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

Các"Hội"thẩm"nhân"nhân: Ông Cầm Văn Quynh + Ông Lê Đức Trường.

- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/HSST ngày 31 tháng 3 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2020/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Thào A N; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1983 tại: Huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản S K, xã M C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông: Thào Páo L, sinh năm: 1956 và bà Sồng Thị D, sinh năm: 1965; bị cáo có vợ là Sồng Thị M, sinh năm: 1983 và có 05 con ( Lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2019 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sốp Cộp, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 15/12/2019, tại khu vực bản Cống, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Mường Và đã phát hiện bắt quả tang đối tượng Thào A N ( Sinh năm: 1983, trú tại: Bản S K - M C - Sông Mã - Sơn La) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu trong túi áo khoác ngoài bên phải của đối tượng 01 gói ni lon màu trắng, bên trong có 02 túi ni lon màu xanh và 01 túi ni lon màu hồng. Mở gói ni lon màu hồng ký hiệu A có 193 viên nén màu hồng; mở gói ni lon xanh ký hiệu 1 có 193 viên nén màu hồng; mở gói ni lon màu xanh ký hiệu 2 có 44 viên nén màu hồng, tổng cộng là 430 viên nén màu hồng. Thào A N khai nhận là ma túy tổng hợp.

Vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 16/12/2019, tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh 430 viên nén màu hồng do thu giữ của đối tượng Thào A N, cụ thể như sau: Cân tách bì toàn bộ 430 viên nén màu hồng có khối lượng 43,77 gam, trong đó: Túi ni lon màu xanh ký hiệu 1 có 193 viên khối lượng 19,37 gam, trích lấy 05 viên khối lượng 0,49 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N, số còn lại 188 viên khối lượng 18,88 gam lưu kho; Túi ni lon màu xanh ký hiệu 2 có 44 viên khối lượng 5,40 gam, trích lấy 05 viên khối lượng 0,5 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N1, số còn lại 39 viên khối lượng 4,90 gam lưu kho; Túi ni lon màu hồng ký hiệu A có 193 viên khối lượng 19 gam, trích lấy 05 viên khối lượng 0,49 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N2, số còn lại 188 viên khối lượng 18,51 gam lưu kho.

Tại bản Kết luận giám định số: 13 ngày 18/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: " Mẫu gửi giám định ký hiệu N, N1, N2 đều là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định N = 0,49 gam; N1 = 0,5 gam; N2 = 0,49 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 43,77 gam; loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, bị can Thào A N đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/12/2019, Thào A N một mình đi bộ từ nhà ở bản S K, xã M C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đến ở khu vực lán nương thuộc bản Pu Hao, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, với mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2019 trong khi Thào A N đang đi bộ một mình ở khu vực bản Pu Hao, xã Mường Lạn thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết trên đường, N lại gần hỏi và mua được của người đó 430 viên ma túy ( được đựng trong 02 túi ni lon màu xanh và 01 túi ni lon màu hồng ) với giá 2.400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì N gói cả 03 túi ma túy bằng 01 mảnh ni lon màu trắng rồi cất dấu vào trong túi áo khoác màu đen đang mặc rồi đi bộ về nhà. Trên đường về đến khu vực bản Cống, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp thì Thào A N bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Mường Và phát hiện, bắt quả tang đồng thời thu giữ toàn bộ số vật chứng là 43,77 gam ma túy loại Methamphetamine như đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT - VKS ngày 31/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Thào A N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

2

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo Thào A N, với tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Thào A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 11 đến 12 năm tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Tuyên tịch thu tiêu huỷ số vật chứng gồm: 42,29 gamMethamphetamine ( Số còn lại sau khi trích rút gửi giám định 1,48 gam ); 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu trắng; 01 mảnh ni lon màu hồng; 02 mảnh ni lon màu xanh.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 15/12/2019 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ 43,77 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung: Ngày 01/01/2020, bị cáo Thào A N ( Có"căn"cước"lý"lịch" như" trên ) đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý ( 43,77 gam Methamphetamine ) với mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ là ma túy; kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Thào A N đã phạm

3

vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“"1."Người"nào"tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"tuý"mà"không"nhằm"mục"đích" mua"bán,"vận"chuyển,"sản"xuất"trái"phép"chất"ma"túy"thuộc"một"trong"các"trường" hợp"sau"đây,"thì"bị"phạt"tù"từ"01"năm"đến"05"năm:" "

a).........." "

2."Phạm"tội"thuộc"một"trong"các"trường"hợp"sau"đây,"thì"bị"phạt"tù"từ"05" năm"đến"10"năm:" "

a)........." "

3."Phạm"tội"thuộc"một"trong"các"trường"hợp"sau"đây,"thì"bị"phạt"tù"từ"10" năm"đến"15"năm:"

a)..........."

b)"Heroine,"Cocaine,Methamphetamine,"Amphetamine,"MDMA"hoặc"XLR-11"có"khối"lượng"từ"30"gam"đến"dưới"100"gam;" "

5." Người" phạm" tội" còn" có" thể" bị" phạt" tiền" từ" 5.000.000" đồng" đến" 500.000.000"đồng,"cấm"đảm"nhiệm"chức"vụ,"cấm"hành"nghề"hoặc"làm"công"việc" nhất"định"từ"01"năm"đến"05"năm"hoặc"tịch"thu"một"phần"hoặc"toàn"bộ"tài"sản."."

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội bởi tội phạm bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý với khối lượng lớn. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài nhằm trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ý thức chấp hành pháp luật nhà nước.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

4

Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 42,29 gamMethamphetamine ( Số còn lại sau khi trích rút gửi giám định 1,48 gam ) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời là vật nhà nước cấm lưu hành. Cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Để tuyên tịch thu tiêu hủy cùng với số vật chứng kèm theo gồm: 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu trắng; 01 mảnh ni lon màu hồng; 02 mảnh ni lon màu xanh.

Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản Pu hao, xã Mường Lạn, huyện Sốp Cộp vào ngày 15/12/2019. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của đối tượng. Do vậy không có cơ sở để điều tra làm rõ.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Thào A N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Thào A N 11( Mười một ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 15/12/2019 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tiếp tục tạm giam bị cáoThào A N trong hạn 45 ( Bốn"mươi"lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

- 01 phong bì thư của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, niêm phong dán kín lại. Một mặt phong bì ghi: " Vật chứng lưu kho vụ: Thào A N, sinh năm 1983, trú tại bản Sài Khao, xã Mường Cai, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn

5

La. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 15/12/2019. Bên trong phong bì có 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu trắng, 01 túi ni lon màu hồng; 02 túi ni lon màu xanh; 415 viên ma túy có khối lượng 42,29 gam loại Methamphetamine ". Mặt còn lại của phong bì dán giấy niêm phong của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp, số 010904, có đầy đủ, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong; chữ ký, họ tên của Thào A N và 02 hình dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

3. Án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ