- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HSST Ngày 11/6/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa
phiên tòa ông: Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đào Long Hải
- Bà: Lý Thị The.
- Thư ký phiên tòa, bà: Lâm Thị Tuyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa ông: Bùi Ngọc Chín - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2020/TL-ST-HS, ngày 10 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo.
1. Lò Văn H - Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không - Sinh năm 1991, tại xã N, thị xã L, tỉnh B; Nơi cư trú: Bản C, xã N, thị xã L, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: không; Con ông Lò Văn Q - sinh năm 1965 và con bà Khoàng Thị T - Sinh năm 1965; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2020 đến ngày 21/01/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa.
2. Người làm chứng: Ông Lò Văn V - Sinh năm 1966 - Trú tại: Bản H1, xã N, huyện M, tỉnh C - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 18/01/2020 Lò Văn H điều khiển xe mô tô chở Lò Văn H đi từ khu phố 9 thị trấn huyện M lên bản P, xã B, huyện N, tỉnh C, khi đến khu vực bản P, H vào nhà của một người phụ nữ dân tộc HMông, qua trao đổi H mua với người phụ nữ này được 01 (Một) gói Heroine với giá 500.000 đồng, sau đó H điều khiển xe mô tô chở H đi về thị trấn M. Đến 13 giờ 50 phút cùng ngày khi H và H về đến Km 288+690 Quốc lộ 4H thuộc địa phận bản H1, xã N, thì bị tổ công tác cảnh sát giao thông Công an huyện M phát hiện và bắt quả tang, lập biên bản thu gữi 01 (Một) gói nilon màu hồng, bên trong được gói bằng 02 (Hai) mảnh nilon màu hồng có chứa chất bột khô màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số: 55/GĐ-KTHS ngày 21/01/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh C kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn H có khối lượng 2,09 gam, mẫu chất bột màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-MT ngày 10 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố Lò Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự, tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/ Bộ luật hình sự; Điều 106/ Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,85 gam Heroine và 03 (Ba) mảnh ni lon màu hồng dùng để gói Heroine.
- Không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, là phạt tiền đối với bị cáo, do hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn.
Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo thừa nhận lời khai ngày 18/01/2020 của người làm chứng anh Lò Văn V là hoàn toàn khách quan, đúng sự thật, bị cáo không có ý kiến gì thêm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, nhất trí với bản luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên; bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 18/01/2020 Lò Văn H đã tàng trữ trái phép 2,09 gam chất ma túy, loại Heroine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Đề nghị của kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền, xử lý vật chứng là đúng quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
. Về tình tiết tăng nặng xét bị cáo Lò Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Lò Văn H luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải).
. Về nhân thân bị cáo Lò Văn H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 10/12, lớn lên làm nghề tự do, bản thân là người sử dụng chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, để có chất ma túy sử dụng bị cáo đã cố ý phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 5 trăm triệu đồng, vì điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình và bản thân bị cáo khó khăn Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
. Vật chứng của vụ án là: 1,85 gam Heroine và 03 (Ba) mảnh ni lon màu hồng dùng để gói Heroine, cần tịch thu, tiêu hủy, theo quy định tại Điều 47/ Bộ luật hình sự; Điều 106/ Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135/Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Lò Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Văn H: 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được trừ thời gian tạm giữ là 03 (Ba) ngày từ ngày 18/01/2020 đến ngày 21/01/2020, Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày đi chấp hành án.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu, tiêu hủy: 1,85 gam Heroine và 03 (Ba) mảnh ni lon màu hồng dùng để gói Heroine của Lò Văn H.
- Áp dụng khoản 2 Điều 135/Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UNTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lò Văn H phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lai Châu - Công an huyện M.Tè - VKSND huyện M.Tè - Tòa án thị xã Mường Lay - Chi cục THADS huyện M.Tè. - Bị cáo - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Lò Xuân Hải |