- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 21/2020/HSST Ngày: 21/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
-T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tiến Thị
2. Ông Lê Văn Nhưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư Ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 24/2020/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/XXHSST – HS, ngày 20/8/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Quang T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam
Sinh ngày 19 tháng 05 năm 1982, tại xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn E, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Lê Hồng R; sinh năm: 1954; con bà: Lê Thị Y, sinh năm: 1961; vợ: Lê Thị Ngọc U, sinh năm 1984; con: có 02 đứa, đứa lớn tuổi nhất sinh năm 2004, đứa nhỏ tuổi nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/09/2012, bị Tòa án nhân dân T phố Hồ Chí Minh xử phạt 2 năm tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", theo bản án số 737/2012/HSST ngày 28/09/2012 của Tòa án nhân dân T phố Hồ Chí Minh. Chấp hành xong án phạt vào ngày 04/12/2012, chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí vào tháng 09 năm 2013; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Chị Phan Thị I, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn O, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh(Đã chết)
- Đại diện gia đình bị hại: Anh Lê Văn P, sinh năm 1986; nghề nghiệp lái xe; nơi cư trú: Thôn O, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng là người đại diện hợp pháp cho cháu Lê Quang Nhật A (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Lê Ngọc Lan S – sinh năm 2004; nghề nghiệp: Học sinh; nơi cư trú: Thôn E, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
2. Cháu Lê Quang D – sinh năm 2010; nghề nghiệp: Học sinh; nơi cư trú: Thôn E, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
3. Chị Lê Thị F – sinh năm 1984; nghề nghiệp: Giáo viên; nơi cư trú: Thôn E, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh, đồng thời là người đại diện hợp pháp cho cháu Lê Ngọc Lan S và cháu Lê Quang D (Vắng mặt)
4. Cháu Lê Quang Nhật A – sinh năm 2019; nơi cư trú: Thôn O, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
5. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu HT: Do ông Trần Văn G – sinh năm 1985; nơi cư trú: Bằng A, HL, HM, Hà Nội đại diện theo uỷ quyền (Vắng mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Xuân H – sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn J, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt)
2. Anh Trần Văn Z – sinh năm 1997 nơi cư trú: Thôn J, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt)
3. Anh Nguyễn Văn X – sinh năm 1983 nơi cư trú: Thôn J, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt)
4. Chị Phan Thị C – sinh năm 1978 nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 26/01/2020, Lê Quang T, có giấy phép lái xe hạng E số 3700790006303, do Bộ giao thông vận tải cấp ngày 01/02/2016, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe màu đen mang BKS 30E-848.36 ( xe ô tô do em trai của T là Lê Văn P, mượn của anh Trần Văn G) chở Lê Văn P, sinh năm 1986, chị Phan Thị I, sinh năm 1994, chị Lê Thị Ngọc U, sinh năm 1984, cháu Lê Quang Nhật A, sinh năm 2019, cháu Lê Ngọc Lan S, sinh năm 2004, cháu Lê Quang D, sinh năm 2010 đều trú tại xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh đi từ nhà bà Phan Thị C, sinh năm 1978, trú tại xóm N, xã B, huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh, để về nhà. Khi đi đến đoạn đường vòng trên đường kinh tế Quốc Phòng, thuộc địa phận Thôn J, xã L, huyện K do không chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên T điều khiển xe ô tô không đi đúng phần đường theo quy định mà điều khiển xe lao xuống ruộng làm xe lật nghiêng xuống cánh đồng Thôn J, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Hậu quả, bảy người ngồi trên xe ô tô do T điều khiển đều bị thương phải đi cấp cứu, riêng chị Phan Thị I chết sau một ngày nằm điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, chị Lê Thị Ngọc U bị tổn thương cơ thể 11%, anh Lê Văn P bị tổn thương cơ thể 03%, cháu Lê Ngọc Lan S, cháu Lê Quang Nhật A, Cháu Lê Quang D bị thương nhẹ đã hồi phục, không để lại tổn thương, xe Huyndai santafe BKS 30E-848.36 hư hỏng nặng thiệt hại tài sản 167.217.600 đồng, còn Lê Quang T bị gãy hai xương cẳng chân phải, phải điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, đến ngày 31/01/2019 thì xuất viện.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trạng của đoạn đường nơi xẩy ra tai nạn: Đường kinh tế quốc phòng Phong Khang, Thôn J, xã L, huyện K, Hà Tĩnh.
Đường hai chiều, không có vạch kẻ đường, lòng đường rộng 5,5m, hai bên có lề đường rộng bằng đất 1m.
Lấy góc tường nhà phía Tây- Nam của nhà anh Hoàng Văn M, thuộc Thôn J, xã L, huyện K làm trục cố định.
Lấy lề đường theo hướng từ thôn Tân Phong, Kỳ Giang đi UBND xã Kỳ Tiến, đường kinh tế quốc phòng Phong Khang làm trục cố định. Đo vuông góc từ mốc cố định hướng đi thôn Tân Phong, xã Kỳ Giang, Kỳ Anh 58.7m là điểm đầu vết cày đất, có in hình vân lốp (8) vết cày đất có in hình vân lốp 1 có kích thước 13,5×0,4m, điểm cuối nằm dưới bờ ruộng, đo từ điểm đầu đến trục cố định là 01 m, đo từ điểm cuối đến trục cố định là 4,6m. Đo vuông góc từ điểm đầu vết cày đất 1 hướng đi UBND xã Kỳ Tiến 7,5m là điểm đầu vết cày đường (2), vết cày đường 2 có kích thước 11×0,4m, điểm cuối vết nằm ở ruộng, điểm đầu vết cày 2 trùng với trục cố định, đo từ điểm cuối vết cày đất 2 đến trục cố định là 3,5m. Đo từ điểm cuối vết cày đất 2 hướng đi UBND xã Kỳ Tiến 10,9m là tâm trục bánh xe phía trước xe ô tô 30E- 84836(3), xe ô tô 30E-84836(3) nằm lật nghiêng sang phải, đầu hướng tây, đuôi hướng đông. Đo từ tâm trục bánh trước bên trái đến trục cố định là 11m, đo từ tâm trục bánh sau đến trục cố định là 13m.
Kết quả khám nghiệm tử thi: Tử thi là chị Phan Thị I, sinh năm 1994, trú tại thôn Tr, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh. Chết vào hồi 18 giờ 00 phút, ngày 27/01/2020, ở thôn Tr, xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh
Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
Vùng trán phải có vết xây xát da, kích thước 1,5 x 1cm
Vùng cằm có vết thương, kích thước 3cm x 01cm, được khâu bởi 7 mũi chỉ khâu;
Hai mu bàn tay có một số vết xây xát da;
Đường giữa bụng có vết mổ dài, được đóng bởi 10 mũi chỉ khâu;
Trước ngoài đùi trái có một số vết xây xát da;
Vùng mô chậu phải có vết thương, kích thước 12cm x 1,5 cm.
Kết luận giám định: Tại bản kết luận giám định số 23 ngày 05/02/2020 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Nguyên nhân chết của chị Phan Thị I do đa chấn thương;
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS30E-84836:
Cửa sổ trời bị vỡ bung ra khỏi xe;
Kính chắn gió phía trước bị vỡ, rạn nứt hình chân chim, kính bên ghế phụ bung khỏi vị trí ban đầu;
Nắp cáp nô tại vị trí phía trước gương chiếu hậu hai bên phải bị móp méo, biến dạng trên diện 37×22 cm
Ba đơ xóc phía trước bung khỏi vị trí ban đầu
Cụm đèn chiếu sáng và ốp đèn bên ngoài phía trước bên trái bị hư hỏng
Kính chiếu hậu bên phải mất khỏi xe
Kính chiếu hậu bên trái bị gãy cong vập theo chiều từ phải sang trái từ dưới lên trên cách mặt đất 118cm;
Khung kim loại phía trước bên trái phía trước bị móp méo, biến dạng theo chiều từ trên xuống dưới, kích thước 230×08cm;
Ốp cửa bằng kim loại bên phải bị mất khỏi vị trí ban đầu, để lộ các chi tiết bên trong cửa xe, kính chắn gió cửa bên phải bị vỡ bung khỏi xe;
Ốp vỏ thân xe phía trước bên trái bị móp méo biến dạng;
Kính chắn gió bên trái bị rơi vỡ mất khỏi xe
Ốp kim loại của cửa bên trái bị móp méo, biến dạng;
Ốp kim loại của cửa bên phải phía sau bị móp méo biến dạng cong gập theo chiều từ dưới lên trên
Ốp thân đuôi xe bằng kim loại ở bên phải bị móp méo biến dạng
Ba đơ xóc phía sau đuối xe bị gãy vỡ bung rời khỏi khớp cố định tâm cách mặt đất 100cm;
Đèn xi nhan phía sau bên phải bị hư hỏng hoàn toàn.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 18 ngày 25/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kỳ Anh kết luận giá trị thiệt hại tài sản xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe BKS 30E-84836 là 167.217.600 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu, hai trăm mười bảy ngàn sáu trăm đồng).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 52 ngày 10/06/2020 của Trung tâm pháp ý và giám định y khoa kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với chị Lê Thị Ngọc U là 11%( mười một phần trăm);
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 53 ngày 10/06/2020 của Trung tâm pháp ý và giám định y khoa kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Lê Văn P là 03%( Ba phần trăm);
Vật chứng thu giữ: 01( một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe Biển kiểm soát 30E-84836 bị hư hỏng do tai nạn, đã qua sử dụng. Đây là chiếc xe ô tô Lê Quang T đã trực tiếp sử dụng và gây tai nạn, tuy nhiên quá trình điều tra xác định đây không phải là xe của Lê Quang T, mặt khác vụ tai nạn do lỗi vô ý nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Bị cáo Lê Quang T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT- VKSKA ngày 30 tháng 7 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Lê Quang T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Quang T từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Quang T về cho UBND xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình trực tiếp quản lý và giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Trả lại cho Lê Quang T một giấy phép lái xe số 3700790006303, hạng E do Bộ giao thông vận tải cấp ngày 01/02/2016 (Giấy phép lái xe đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo buộc Lê Quang T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện cho gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xét thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Vậy mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1].Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, sơ đồ biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, biên bản định giá tài sản cùng các tài liệu có tại hồ sơ có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 20 giờ ngày 26 tháng 01 năm 2020 tại đường kinh tế quốc phòng thuộc địa phận Thôn J, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Quang T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30E-84836 đi từ xã Kỳ Xuân, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để về nhà ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, do không làm chủ tốc độ và không chú quan sát nên T điều khiển xe ô tô không đi đúng phần đường theo quy định mà điều khiển xe ô tô 30E-84836 lao xuống ruộng làm xe lật nghiêng xuống cánh đồng Thôn J, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh làm chị Phan Thị I chết, chị Lê Thị Ngọc U bị tổn thương cơ thể 11%, anh Lê Văn P bị tổn thương cơ thể 03%, xe Huyndai santafe BKS 30E-848.36 hư hỏng nặng thiệt hại tài sản 167.217.600 đồng. Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn của bị cáo Lê Quang Thanh đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 5 thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Trong vụ án này lỗi hoàn toàn thuộc về Lê Quang T.
Hành vi của Lê Quang T đủ yếu tố cấu T tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, vì vậy việc truy tố và xét xử Lê Quang T về tội danh và điều khoản nói trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác và trật tự trên lĩnh vực giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đế tình hình chung tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khẩn khai báo; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và xét thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội do lỗi vô ý, hơn nữa bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử cho bị cáo được hưởng án treo, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo.
Trong vụ án này, Lê Văn P là người đã trực tiếp mượn xe ô tô BKS 30E-84836 của anh Lê Văn Long và sau đó giao xe cho Lê Quang T điều khiển, quá trình điều tra xác định Lê Văn P đã giao xe cho Lê Quang T, là người đủ điều kiện điều khiển xe ô tô BKS 30E-84836 nên hành vi của Thư không cấu T tội phạm.
.Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã thu giữ trả lại cho chủ sở hữu( một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Santafe Biển kiểm soát 30E-84836, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
.Về dân sự: Lê Quang T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 20.000.000 đồng và hỗ trợ 80.000.000 đồng cho chủ xe ô tô BKS 30E-84836. Sau khi nhận số tiền trên đại diện gia đình bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Ngoài ra chị Lê Thị Ngọc U, anh Lê Văn P, cháu Lê Ngọc Lan S và đại diện hợp pháp của cháu Lê Ngọc Lan S, Lê Quang D, Lê Quang Nhật A có đơn không yêu cầu bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại Khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 6, Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo: Lê Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Xử phạt Lê Quang T 15 ( Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Quang T về cho UBND xã Q, huyện W, tỉnh Hà Tĩnh và gia đình trực tiếp quản lý và giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Trả lại cho Lê Quang T một giấy phép lái xe số 3700790006303, hạng E do Bộ giao thông vận tải cấp ngày 01/02/2016 (Giấy phép lái xe đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án).
Về án phí: Xử buộc Lê Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, anh Lê Văn P là người đại diện gia đình bị hại và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng là người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng PC10; - Sở Tư pháp; - CA huyện Kỳ Anh; - VKSND huyện Kỳ Anh; - Chi cục THA dân sự - Cơ quan THAHS CAH. Kỳ Anh; - Những người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Xuân Hoàng |