vanban.org

Bản án 21/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Ngọc H phạm tội “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Dương Ngọc H về cho UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo bị kết án phải có trách nhiệm, phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc H phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng Ngọc H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUỴÊN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HSST.
Ngày: 19 - 5 – 2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai và ông Phan Xuân Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: Bà Giản Thị Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 19/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huỵên Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2020/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2020/HSST ngày 05/5/2020, đối với bị cáo:

1. Bị cáo Dƣơng Ngọc H (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1978; Nơi sinh: T Yên, BG; Nơi cư trú: Buôn V, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Dương Ngô H, sinh năm 1955 và con bà Thân Thị S, sinh năm 1957, bố mẹ bị cáo đang cư trú tại thôn A, xã Ô, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có vợ là bà Trịnh Thị H, sinh năm 1980, bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006, vợ con bị cáo trú tại: Buôn V, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trịnh Thị H1, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Buôn V, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

+ Ông Trần Văn V, sinh năm 1975. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 12, xã Ô, huyện E, tỉnh Đắk Lắk

2.3 Người làm chứng:

+ Ông Lê Bá T, sinh năm 1985. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Buôn V, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Ngọc H (Sinh năm 1978) và Trịnh Thị H1 (Sinh năm 1980) là vợ chồng, trú tại: Buôn V, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vợ chồng H mở cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng ngay tại nhà. Quá trình sinh sống, một vài lần H có mua vé số và ghi số đề từ một số người bán vé số dạo (Hiện không nhớ họ tên, địa chỉ cụ thể); do việc kinh doanh, buôn bán gặp khó khăn và thấy việc ghi số đề dễ dàng mà đem lại thu nhập nên H nảy sinh ý định nhận ghi số đề cho những người có nhu cầu, việc này H không nói cho Hào biết.

Sáng ngày 09/9/2019, H đi giải quyết công việc nên ở nhà chỉ có Trịnh Thị H1; khi H1 đang ngồi bán hàng ở trước nhà thì có một số người lạ mặt đến hỏi H và hỏi có ghi số đề hay không, do không biết gì về ghi số đề nên H1 trả lời không. Một lúc sau lại có người đến hỏi H và hỏi ghi số đề, thấy nhiều người có nhu cầu ghi số đề và nghĩ là H đã ghi số đề cho những người này nên H1 nảy sinh lòng tham, đồng ý ghi số đề cho những người này. Do không biết cách thức ghi số đề nên H1 để những người ghi đề tự ghi vào tờ giấy rồi H1 chụp vào điện thoại hoặc đọc số để H1 nhập vào điện thoại, tiền ghi đề thì những người này tự tính đưa cho H1. Sau khi chụp các tờ giấy có ghi số đề cũng như những con số người ghi đề đọc, H1 chuyển toàn bộ sang tin nhắn gửi cho chồng là Dương Ngọc H mục đích là để lưu lại và cũng ghi số đề dùm cho H. H1 sử dụng số điện thoại 0948.404.758, đăng ký Zalo với tên: “Daihuynh”. Dương Ngọc H sử dụng số điện thoại 0903.577.868, đăng ký Zalo với tên “Dương Ngọc H”.

Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 09/9/2019, khi H1 đang ghi số đề: "Bao lô số 28 là 5 điểm", tổng tiền xác là 5 điểm x 23.000 đồng = 115.000 đồng cho Nguyễn Thành L (sinh năm 1995) trú tại: Thôn 6, xã P, huyện M, tỉnh Đắk Lắk thì bị Đội cảnh sát hình sự Công an huyện Ea Kar bắt quả tang, lập biên bản theo quy định của pháp luật.

Cách đánh lô đề được quy ước như sau: Hàng ngày căn cứ vào việc phát hành vé xổ số và kết quả mở thưởng của các Công ty xổ số cấp tỉnh, như: Công ty xổ số tỉnh Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Hà Nội… (người chơi số đề thường gọi là Đài); người mua số đề có quyền lựa chọn số, cách đánh, số tiền mua và Đài mở thưởng. Đối với đài miền Nam mỗi điểm tính 14.000 đồng, đối với đài miền Bắc mỗi điểm tính 23.000 đồng, bao nhiêu điểm thì nhân lên, điểm đá thì nhân đôi để tính tiền xác.

- Bao lô hai chân: Đánh bất kỳ con số nào từ 00 đến 99 theo hai số cuối của tất cả các giải xổ số. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 1 điểm ăn 70.000 đồng đối với đài miền Nam, 1 điểm ăn 80.000 đồng đối với đài miền Bắc;

- Bao lô ba chân: Đánh bất kỳ con số nào từ 000 đến 999 theo ba số cuối của tất cả các giải xổ số. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 1 điểm ăn 600.000 đồng (không phân biệt đài miền Bắc hay đài miền Nam);

- Đá cặp bao lô: Đánh cùng lúc 02 cặp số từ 00 đến 99 theo hai số cuối của tất cả các giải. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 01 điểm ăn 600.000 đồng (không phân biệt đài miền Bắc hay đài miền Nam);

- Đầu đuôi hai chân: Đầu là đánh theo hai số cuối của giải tám đài miền Nam và giải bảy đài miền Bắc; đuôi là đánh theo hai số cuối của giải đặc biệt. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 1.000 đồng ăn 70.000 đồng đối với đài miền Nam, 1.000 đồng ăn 80.000 đồng đối với đài miền Bắc.

- Đầu đuôi ba chân: Đầu là đánh theo ba số cuối giải bảy đài miền Nam và giải 6 đài miền Bắc; đuôi là đánh theo ba số cuối của giải đặc biệt. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 1 điểm ăn 600.000 đồng (không phân biệt đài miền Bắc hay đài miền Nam);

Ngoài việc ghi số đề bị bắt quả tang nêu trên, quá trình điều tra còn chứng minh được như sau:

* Trong ngày 09/9/2019, H1 đã đánh bạc dưới hình thức ghi đề, cụ thể như sau:

- Vào lúc 14 giờ 58 phút: Một người đàn ông ghi Đài Nam (Thừa Thiên Huế): Bao lô số 014 (2 điểm), số 410 (2 điểm), số 039 (1 điểm), số 14 (10 điểm), số 10 (10 điểm); Đá các số 10-14 (2 điểm), số 76-67 (1 điểm); Ghi đầu cuối số 10 (đầu 10.000đồng; cuối 10.000 đồng); số 98 (đầu 10.000 đồng; cuối 30.000 đồng); Ghi đặc biệt: số 784 (5.000 đồng); số 084 (5.000 đồng); số 410 (30.000 đồng); số 014 (5.000 đồng); Tổng số tiền người này chơi đề là: 539.000 đồng.

- Vào lúc 14 giờ 59 phút: Cũng người đàn ông này, ghi Đài Nam (Phú Yên): Bao lô số 014 (1 điểm), số 410 (1 điểm), số 10 (5 điểm), số 14 (5 điểm); Đá các số 10-14 (2 điểm), số 76-67 (1 điểm); Ghi đặc biệt số 410 (10.000 đồng), các số 420, số 014, số 084, số 784 (mỗi số 5.000 đồng); Ghi đầu cuối số 10 (đầu 10.000 đồng; cuối 10.000 đồng), số 98 (đầu 5.000 đồng; cuối 15.000 đồng). Tổng số tiền người này chơi đề là: 322.000 đồng.

- Vào lúc 15 giờ 30 phút: Một người đàn ông, ghi Đài Nam Phú Yên: Đầu các số 00 (10.000 đồng), số 04 (20.000 đồng), số 06 (50.000 đồng), số 08 (40.000 đồng); Bao lô số 06 (10 điểm); Tổng số tiền người này chơi đề là: 260.000 đồng.

- Vào lúc 15 giờ 34 phút: Một thanh niên ghi đài Nam Phú Yên: Bao lô số 35 (20 điểm), số 31 (15 điểm); Ghi đặc biệt số 72 (20.000 đồng). Tổng số tiền người này chơi đề là: 510.000 đồng.

- Vào lúc 16 giờ 20 phút: Một thanh niên ghi Đài Nam Phú Yên: Bao lô số 03 (10 điểm); Ghi đầu cuối số 03 (đầu 30.000 đồng; cuối 30.000 đồng); Tổng số tiền người này chơi đề là: 200.000 đồng.

- Vào lúc 16 giờ 28 phút: Một người đàn ông ghi Đài Nam Phú Yên: Bao lô: số 47 (10 điểm). Tổng số tiền người này chơi đề là: 140.000 đồng.

- Vào lúc 16 giờ 34 phút: Một người đàn ông ghi Đài Bắc Hà Nội: Bao lô số 56 (40 điểm). Tổng số tiền người này chơi đề là: 920.000 đồng.

- Vào lúc 17 giờ 43 phút: Một người đàn ông ghi Đài Bắc Hà Nội: Bao lô số 767 (5 điểm), số 81 (3 điểm), số 147 (5 điểm). Tổng số tiền người này chơi đề là: 299.000 đồng.

Tổng số tiền ghi đề trong ngày là 3.305.000 đồng, H1 đã thu tiền của các con bạc. Căn cứ vào kết quả của công ty xổ số kiến thiết tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉnh Phú Yên ngày 09/9/2019, xác định số trúng là: số 14 (10 điểm) x 70.000 đồng =700.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H1 thu lợi bất chính từ việc ghi số đề là: 4.005.000 đồng.

* Đối với Dương Ngọc H, ngày 09/9/2019, đi công việc không có ở nhà, không biết việc H1 ở nhà ghi số đề cho những ai, cũng như không có sự bàn bạc, thống nhất với H1 về việc ghi số đề. Tuy nhiên, khi H1 gửi tin nhắn đến H vẫn trả lời xác nhận: “OK”. Vì vậy, trong ngày 09/9/2019, ngoài nhận số đề từ H1, H còn nhận số đề từ Trần Văn V (sinh năm 1975) trú tại thôn 12, xã Ô, huyện E và T (chưa xác minh nhân thân, lai lịch) cũng thông qua gửi và nhận tin nhắn Zalo, SMS. Trần Văn V sử dụng số điện thoại 0935.719.737, đăng ký Zalo với tên “Vn”, còn T nhắn tin cho H theo số điện thoại 0843.228.428. H, V và T thống nhất cách chơi như trên; tuy nhiên, ở đài Nam bao lô hai chân 1 điểm là 13.000 đồng, bao lô ba chân 1 điểm là 12.000 đồng còn đầu đuôi, đặc biệt thì bằng số tiền nhân với 0.72%; nếu trúng bao lô hai chân là 70.000 đồng/1 điểm (đối với đài Nam), 80.000 đồng/1 điểm (đối với đài Bắc); bao lô ba chân 600.000đồng/1 điểm (không phân biệt đài miền Bắc hay đài miền Nam) và tiền cược đầu đuôi, đặc biệt là 1.000 đồng được 70.000 đồng, cụ thể như sau:

- Vào lúc 17 giờ 05 phút ngày 9/9/2019, Trần Văn V nhắn tin ghi số đề Đài Nam (tức đài Phú Yên) nội dung: Bao lô 2 chân số 17 (50 điểm), số 71 (50 điểm), số 12 (25 điểm), số 89 (25 điểm); Bao lô 3 chân số 515 (10 điểm), số 078 (15 điểm), số 201 (10 điểm); số 201 đặc biệt (20.000 đồng); Cá cược đầu cuối số 24 (đầu 150.000 đồng), số 515 (đuôi 30.000 đồng), số 579 (đầu 15.000 đồng; đuôi 15.000 đồng), số 727 (đầu 10.000 đồng), số 078 (đuôi 20.000 đồng), số 974 (đuôi 10.000 đồng). Tổng số tiền Vẻ ghi đề là: 2.564.400 đồng.

Ngoài ra, H còn chuyển lại cho V các số đài Phú Yên như sau: Bao lô số 01 (100 điểm), số 201 (40 điểm); Cá cược đặc biệt số 01 (100.000 đồng), 201 (50.000 đồng). Tổng số tiền là: 1.888.000 đồng. H chưa nhận tiền của Vẻ, căn cứ vào kết quả của công ty xổ số kiến thiết tỉnh Phú Yên ngày 09/9/2019, xác định các số mà Huynh, Vẻ giao dịch đều không trúng.

- Vào lúc 17 giờ 04 phút, T nhắn tin qua SMS với nội dung ghi đề đài Phú Yên như sau: Bao lô 2 chân số 01 (300 điểm); Bao lô 3 chân số 201 (200 điểm); Cá cược đặc biệt số 201 (150.000 đồng), số 01 (300.000 đồng). Tuy nhiên số tiền quá lớn nên H chỉ nhận: Bao lô 2 chân số 01 (300 điểm); Bao lô 3 chân số 201 (60 điểm); Cá cược đặc biệt số 201 (100.000 đồng); số 01 (200.000 đồng). Tổng số tiền T ghi đề là: 4.836.000 đồng. H chưa nhận tiền của T, căn cứ vào kết quả của công ty xổ số kiến thiết tỉnh Phú Yên ngày 09/9/2019, xác định các số mà H, T giao dịch đều không trúng.

Như vậy, trong ngày 09/9/2019 Dương Ngọc H đã nhận ghi đề của Trịnh Thị H1, Trần Văn V và T với tổng số tiền là: 13.293.400 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Số tiền 3.305.000 đồng của Trịnh Thị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám bạc.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s do Dương Ngọc H giao nộp.

- Số tiền 2.565.000 đồng do Trần Văn V giao nộp.

Tại bản cáo trạng số 25/KSĐT - HS, ngày 01 tháng 4 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố bị cáo Dương Ngọc Huynh về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Dương Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Phần tranh luận tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Dương Ngọc H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

1. Xử phạt bị cáo Dương Ngọc H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng đến 24 tháng.

Giao bị cáo Dương Ngọc H về cho UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Các biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước

- Số tiền 3.305.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám bạc.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s do Dương Ngọc H giao nộp.

- Số tiền 2.565.000 đồng do Trần Văn V giao nộp.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar)

- Truy thu số tiền 2.588.000 đồng của bị cáo Dương Ngọc H là số tiền bị cáo đã dùng vào việc đánh ghi số đề.

- Còn đối với số tiền 4.836.000 đồng mà đối tượng T đã đánh đề với bị cáo H, bị cáo H chưa nhận tiền từ T trong quá trình điều tra không thu giữ được nên không đề cập để giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn thực tế khách quan. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Vào ngày 09/9/2019, bị cáo Dương Ngọc H đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề; tổng số tiền mà H sử dụng vào mục đích đánh bạc là 13.293.400 đồng. Trong đó đánh đề với Trịnh Thị H1 là 4.005.000 đồng (trong số tiền này mà H1 đã chuyển cho H tại đài Thừa Thiên Huế trong đó có dây đề bao lô con số 14 là 10 điểm, tại kết quả xổ số ngày 09/9/2019 đã trúng con lô số 14 được tính điểm trúng như sau: 10 điểm x 70.000 đồng = 700.000 đồng là số tiền đề đã trúng); với Trần Văn V là 4.452.400 đồng và đối tượng tên T (chưa rõ nhân thân lai lịch) là 4.836.000 đồng. Xác định trong ngày 09/9/2019 bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc (ghi số đề) đối với 03 đài xổ số kiến thiết cụ thể là đài Thừa Thiên Huế, đài Thủ Đô (Hà Nội) và đài Phú Yên, xét thấy số tiền đánh bạc của bị cáo tại đài Phú Yên với số tiền là 10.720.400 đồng đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, còn đối với số tiền đánh bạc của bị cáo tại đài Thủ Đô là 1.334.000 đồng và đài Thừa Thiên Huế là 1.239.000 đồng là dưới mức để truy cứu trách nhiệm hình sự cho từng lần đánh bạc, như vậy xác định số tiền bị cáo H đã thực hiện hành vi đánh bạc (ghi số đề) với số tiền là 10.720.400 đồng (Mười triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng) Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi để biết được rằng, việc đánh bạc bằng hình thức ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, là hệ lụy phát sinh các loại tội khác tại địa phương. Mặc dù nhận thức được như vậy, nhưng với bản chất xem thường pháp luật, vì mục đích tư lợi cá nhân, nên bị cáo đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền (ghi số đề), tổng số tiền bị cáo đã dùng vào mục đích đánh bạc là 10.720.400 đồng (Mười triệu bảy trăm hai mươi ngàn bốn trăm đồng). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar truy tố bị cáo về tội đánh bạc theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 là đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Do vậy, Hội đồng xét xử cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo để mang tính chất răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt Hội đồng xét xử cần phải xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi áp dụng hình phạt cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Xét mức hình phạt mà đại diện VKS đề nghị, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi ở và cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Dương Ngọc H còn khai nhận trước đó đã ghi số đề cho một số người. Tuy nhiên, không nhớ rõ người ghi, số tiền ghi; hiện các tài liệu, dữ liệu đã bị xóa bỏ không thu giữ được. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar không có căn cứ để xử lý đối với hành vi ghi số đề như Huynh đã khai nhận.

Đối với Trịnh Thị H1 là người có hành vi đánh bạc thông qua hình thức ghi số đề với số tiền ghi đề là 4.005.000 đồng vào ngày 09/9/2019; sau khi ghi đề đã chuyển cho Dương Ngọc H. Tuy nhiên, hành vi ghi số đề của H1 là tự phát, không có sự bàn bạc thống nhất với H, không biết việc H ghi số đề cho các đối tượng khác; bản thân H1 từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên theo quy định của pháp luật chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 là đúng quy định.

Đối với Trần Văn V là người có hành vi đánh bạc thông qua hình thức ghi số đề với số tiền ghi đề là 4.452.400 đồng với Dương Ngọc H. Như vậy, số tiền mà V sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng; bản thân V hiện không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, nên theo quy định của pháp luật chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V là đúng quy định.

Đối với đối tượng có tên là Nguyễn Thành L đã có hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 115.000 đồng dưới hình thức chơi số đề với Trịnh Thị H1. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác minh theo địa chỉ mà L cung cấp ban đầu khi bị bắt quả tang tại thôn 6, xã P, huyện M, tỉnh Đắk Lắk thì tại địa chỉ này không có người nào tên L. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được nhân thân lai lịch sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng tên T (còn gọi là T vịt), hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với mái hiên nhà H sử dụng vào việc ghi số đề, theo Biên bản xác minh hiện trường thì diện tích đất này nằm trong mốc lộ giới của đường liên xã C và xã Ô nên không có căn cứ để định giá, xử lý đối với vật chứng này.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước

- Số tiền 3.305.000 đồng do Trịnh Thị H1 giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám bạc.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s do Dương Ngọc H giao nộp.

- Số tiền 2.565.000 đồng do Trần Văn V giao nộp.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar)

- Truy thu số tiền 2.588.000 đồng của bị cáo Dương Ngọc H là số tiền bị cáo đã dùng vào việc đánh ghi số đề.

- Còn đối với số tiền 4.836.000 đồng mà đối tượng T đã đánh đề với bị cáo H, bị cáo H chưa nhận tiền từ T trong quá trình điều tra không thu giữ được số tiền này nên không đề cập để giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Dƣơng Ngọc H phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Ngọc H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Ngọc H về cho UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Gia đình của bị cáo bị kết án phải có trách nhiệm, phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Các biện pháp tƣ pháp:

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 5.870.000 đồng, đây là số tiền mà H1, V sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu xám bạc và điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s, đây là điện thoại di động H, H1 sử dụng làm phương tiện đánh bạc.

Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar.

- Truy thu số tiền 2.588.000 đồng của bị cáo Dương Ngọc H là số tiền bị cáo đã dùng vào việc đánh ghi số đề.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Dương Ngọc H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ