- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Bảo Th, sinh năm 1994 và Phan Minh Kh, sinh năm 1998 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phan Minh Kh và Trần Bảo Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 21/2020/HS-ST Ngày: 30/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Thanh Hùng;
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên.
.
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 377/2020/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Trần Bảo Th, sinh năm 1994; Nơi cư trú (ĐKHKTT): Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: đạo Phật; Con ông Trần Th Ph, sinh năm 1972 và bà Đoàn Thị R, sinh năm 1972; Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/10/2020 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
2. Phan Minh Kh, sinh năm 1998; Nơi cư trú (ĐKHKTT): Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 4/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: đạo Phật; Con ông Phan Văn T, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị Bé S, sinh năm 1976; Có vợ là Lê Thị Hoài Th, sinh năm 1996 và con Phan Thị Bảo Ng, sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/10/2020 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trịnh Văn X, sinh năm 1974; Địa chỉ: Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Văn Ph, vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Hà Thanh Ph và anh Trương Minh H đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 14/9/2020, Phan Minh Kh và Trần Bảo Th đang uống rượu tại nhà của Nguyễn Văn Ph thuộc Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang. Lúc này, Kh rủ Thanh góp tiền mua ma túy cùng sử dụng, Th đồng ý, cả hai góp được 200.000 đồng, Th mượn xe môtô, nhãn hiệu Wave alpha, màu xanh, biển kiểm soát 61L4-4597 của ông Trịnh Văn X cho Kh điều khiển chở Th đi đến khu vực xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang để mua ma túy. Tại đây, Kh và Th mua ma túy của người tên Hiền (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với giá 200.000 đồng, xong Kh điều khiển xe môtô trên chở Th về đến khóm Long Hưng 2, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu, do xe hết xăng nên cả hai dẫn xe đi bộ. Lúc này, Công an thị xã Tân Châu tuần tra đến khu vực trên, nhìn thấy Kh và Th có biểu hiện nghi vấn nên đến kiểm tra phát hiện, trong túi áo của Th có 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh kẹp viền xanh một đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, Kh và Th thừa nhận đây là ma túy đá, Kh và Th mua để cùng sử dụng nên Công an thị xã Tân Châu đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ những vật chứng có liên quan.
Vật chứng thu giữ: 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh kẹp viền xanh một đầu, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy); 01 điện thoại di động, hiệu Itel, màu xanh - đen (đã qua sử dụng); 01 hộp giấy, bên ngoài có quấn băng keo màu đen; 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa; 01 co thủy tinh, dùng để sử dụng ma túy đá; 02 đoạn ống kim loại màu trắng; 01 lưỡi dao, màu đen, hiệu Sinclam (đã qua sử dụng); 01 bật lửa (đã qua sử dụng); 01 xe môtô, hiệu Wave alpha màu xanh, biển kiểm soát 61L4-4597 (đã qua sử dụng).
Kết luận giám định số 240/KLGT-PC09(MT) ngày 09/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,1207 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Tân Châu, các bị cáo khai nhận hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn X khai, ông là chủ sở hữu xe mô tô, nhãn hiệu Wave alpha, màu xanh, biển kiểm soát 61L4-4597. Vào tối ngày 14/9/2020, ông X có cho Kh và Th mượn xe môtô trên để đi mua đồ, ông không biết Kh và Th mượn xe để đi mua ma túy. Ông X đã nhận lại xe môtô trên, không yêu cầu bồi thường khác.
Người chứng kiến ông Hà Thanh Ph và anh Trương Minh H cùng khai, khoảng 23 giờ 30 phút ngày 14/9/2020, tại khu vực khóm Long Hưng 2, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu thì lực lượng Công an có mời đến chứng kiến hai thanh niên đang dẫn xe Wave màu xanh, biển kiểm soát 61L4-4597 phát hiện trong túi áo có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín, có rãnh khóa viền xanh một đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng, Th và Kh thừa nhận là ma túy đá, mua về để sử dụng nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Th và Kh và thu giữ những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội.
Người làm chứng Nguyễn Văn Ph có lời khai phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Ngày 14/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can Phan Minh Kh và Trần Bảo Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Cáo trạng số 77/CT-VKSTC ngày 30/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố bị cáo Phan Minh Kh và Trần Bảo Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Kh và Th khai nhận, nguồn gốc ma túy mà các bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/9/2020 là mua của người tên Hiền (không rõ họ tên) tại xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, với giá 200.000 đồng, đem về để sử dụng. Khi bị cáo Kh và Th đến khu vực Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện trong túi áo của bị cáo Th đang mặc trên người, có một bọc nilon trong suốt, hàn kín, có rãnh khóa viền xanh một đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng, đối với trong người của bị cáo Kh có một điện thoại di động, hiệu Itel, màu xanh - đen (đã qua sử dụng), một hộp giấy, bên ngoài có quấn băng keo màu đen, một bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa, một co thủy tinh, dùng để sử dụng ma túy đá, hai đoạn ống kim loại màu trắng, một lưỡi dao, màu đen, hiệu Sinclam (đã qua sử dụng) và một bật lửa (đã qua sử dụng) nên Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Kh và Th.
Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo Phan Minh Kh và Trần Bảo Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý.
Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo Kh và Th không có sự cấu kết phân công chặt chẽ, các bị cáo đều là người thực hành. Trong đó, bị cáo Kh là người rủ rê bị cáo Th mua ma túy sử dụng, còn bị cáo Th mượn xe mô tô và điều khiển chở Tham mua ma túy tham gia với vai trò trực tiếp tỏ ra tích cực.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức án nghiêm đối với các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc thành phần lao động, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Phan Minh Kh từ 01 (Một) năm 06 (Sáu tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Bị cáo Trần Bảo Th từ 01 (Một) năm 06 (Sáu tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Về hình phạt bổ sung, các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tich thu, tiêu hủy: Toàn bộ ma túy đã hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy, bên ngoài có quấn băng keo màu đen; 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa; 01 co thủy tinh, dùng để sử dụng ma túy đá; 02 đoạn ống kim loại màu trắng; 01 lưỡi dao, màu đen, hiệu Sinclam (đã qua sử dụng); 01 bật lửa (đã qua sử dụng);
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, hiệu Itel, màu xanh - đen (đã qua sử dụng) do bị cáo Kh sử dụng vào việc mua ma túy;
- 01 xe môtô, hiệu Wave alpha màu xanh, biển kiểm soát 61L4-4597 (đã qua sử dụng) đã giao trả cho ông X nên không đề cập đến.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.
Các bị cáo Kh và Th nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng Khc;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng,
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Phan Minh Kh và Trần Bảo Th bị Cơ quan điều tra - Công an thị xã Tân Châu khởi tố về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị bắt quả tang tại khu vực Khóm L, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trịnh Văn X, người làm chứng Nguyễn Văn Ph, người chứng kiến ông Hà Thanh Ph và anh Trương Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung,
Hành vi phạm tội:
Bị cáo Kh và Th khai nhận, khoảng 22 giờ ngày 14/9/2020, bị cáo Kh và Th đang ngồi uống rượu tại nhà của Nguyễn Văn Ph thuộc khóm Long Hưng 2, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu thì bị cáo Kh rủ bị cáo Th hùn tiền mua ma túy sử dụng. Sau khi cả hai hùn đươc 200.000 đồng, bị cáo Th mượn xe môtô, hiệu Wave alpha màu xanh, biển kiểm soát 61L4-4597 của ông Trịnh Văn X, bị cáo Kh chở Th đến gặp Hiền tại xã Phú Thạnh, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo Kh điện thoại cho Hiền mua 200.000 đồng ma túy, xong bị cáo Th cầm ma túy bỏ vào túi áo, cùng bị cáo Kh trở về, do xe hết xăng nên cả hai dẫn bộ, khi dẫn bộ đến khu vực khóm Long Hưng 2, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu thì bị lực lượng tuần tra Đặc nhiệm Công an thị xã Tân Châu kiểm tra phát hiện trong túi áo của bị cáo Th có 01 bọc nilon trong suốt, hàn kín, có rãnh kẹp viền xanh một đầu, bên trong chứa tinh thể màu trắng, bị cáo Th thừa nhận là ma túy đá, riêng trong người của bị cáo Kh có 01 điện thoại di động hiệu Itel màu xanh đen, 01 hộp giấy quắn băng keo đen, bên trong có chứa 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa, một co thủy tinh, dùng để sử dụng ma túy đá, hai đoạn ống kim loại màu trắng, một lưỡi dao, màu đen, hiệu Sinclam và một bật lửa nên Công an thị xã Tân Châu đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng có liên quan và đưa các bị cáo về trụ sở làm việc.
Ngoài ra, bị cáo Th còn khai nhận, đã mua ma túy của Hiền được 02 lần, mỗi lần mua 200.000 đồng ma túy đem về để sử dụng, riêng bị cáo Kh bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2014, đã ngưng sử dụng, đến năm 2020 thì sử dụng lại, bị cáo Kh đã mua ma túy của Hiền được 03 lần, mỗi lần mua 200.000 đồng ma túy đem về để sử dụng, đến lần thứ ba ngày 14/9/2020 thì bị lực lượng Công an thị xã Tân Châu bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo Kh và Th tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14/9/2020, Kết luận giám định số 240/KLGT-PC09(MT) ngày 09/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang với lượng ma túy 0,1207 gam, loại Methamphetamine; lời khai của người liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Đủ căn cứ xác định bị cáo Kh và Th đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trong túi áo của bị cáo Th; Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nên cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Ma túy là chất gây nghiện, là mầm móng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác nên Nhà nước độc quyền quản lý. Đồng thời, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Kh và Th có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thuộc thành phần nhân dân lao động, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về đồng phạm:
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Kh và Th không có sự bàn bạc, câu kết, phân công. Tuy nhiên, bị cáo Kh giữ vai trò chủ động rủ rê, bị cáo Th mượn xe mô tô và điều khiển xe chở bị cáo Th mua ma túy và tỏ ra tích cực. Do đó, có xem xét đến tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo trong đồng phạm khi quyết định hình phạt.
Hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính nguy hiểm cao cho xã hội, cần xử lý nghiêm cách ly các bị cáo với bên ngoài xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo Kh và Th có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, xét không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với lượng ma túy đã thu giữ (vật cấm lưu hành) cùng các vật chứng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp niêm phong ghi vụ số 240/KLGT-PC09(MT) ngày 09/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang. Có chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Phước H và dấu mộc tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; 01 hộp giấy, bên ngoài có quấn băng keo màu đen; 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa; 01 co thủy tinh, dùng để sử dụng ma túy đá; 02 đoạn ống kim loại màu trắng; 01 lưỡi dao, màu đen, hiệu Sinclam (đã qua sử dụng); 01 bật lửa (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động, hiệu Itel màu xanh đen (đã qua sử dung), bị cáo Kh dùng vào việc điện thoại cho Hiền để mua ma túy, xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 01 xe môtô, hiệu Wave alpha màu xanh, biển kiểm soát 61L4-4597 (đã qua sử dụng) của ông X, đã giao trả trong quá trình điều tra nên không xem xét giải quyết.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 04/12/2020).
Theo quy định điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Những vấn đề khác:
Đối với người tên Hiền đã bán ma túy cho Phan Minh Kh và Trần Bảo Th, do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Châu chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Kh và Th mỗi bị cáo pH chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo: Phan Minh Kh và Trần Bảo Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt:
Phan Minh Kh 01 (một) năm 06 (sáu tháng) tù;
Trần Bảo Th 01 (một) năm 06 (sáu tháng) tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt của các bị cáo Kh và Th được tính kể từ ngày tạm giam 15/10/2020 (Mười lăm, tháng mười, năm hai nghìn không trăm hai mươi).
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) hộp niêm phong ghi vụ số 240/KLGT-PC09(MT) ngày 09/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang. Có chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Phước H và dấu mộc tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; 01 hộp giấy, bên ngoài có quấn băng keo màu đen; 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa; 01 co thủy tinh, dùng để sử dụng ma túy đá; 02 đoạn ống kim loại màu trắng; 01 lưỡi dao, màu đen, hiệu Sinclam (đã qua sử dụng); 01 bật lửa (đã qua sử dụng);
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, hiệu Itel màu xanh đen (đã qua sử dung).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 04/12/2020).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phan Minh Kh và Trần Bảo Th, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo Kh và Th có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử
phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thị xã (1); - Viện KSND tỉnh (1); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giam (1); - Phòng hồ sơ (1); - Chi cục THADS thị xã (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Thị Bạch Tuyết |