vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 07/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Quốc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 03 (Ba) năm. Thời gian thử thách tình từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quốc C - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Quốc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên giao trả lại xe mô tô biển
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày 07-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Quen – Ông Huỳnh Văn Rô

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thơm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Huỳnh Quốc C, sinh ngày 08/01/1995; Nơi đăng ký thườ ng trú: Khóm A, Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nơi sinh sống: Khóm A, Phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiê ̣p: Tài xế; trình độ văn hóa: 09/12; dân tô ̣c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Trương Văn Ch, sinh năm 1963 và bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1963; có vợ, chưa có con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: tốt. Bi ̣ cáo bi ̣ cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Tạ Hoàng H, sinh năm 1984 trú tại: Số II, đường T, Phường C, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh (chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Ông Tạ Văn M, sinh năm 1963 (cha ruột bị hại, có mặt)

+ Bà Thạch Thị H, sinh năm 1964 (mẹ ruột bị hại, có mặt)

Cùng trú tại: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh

+ Em Tạ Hoàng Bảo N, sinh ngày 30/7/2007 (con ruột bị hại)

+ Em Tạ Hoàng Bảo Th, sinh ngày 06/12/2010 (con ruột bị hại)

Cùng trú tại: trú tại: Số II, đường T, Phường C, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp cho em Tạ Hoàng Bảo N và em Tạ Hoàng Bảo Th: bà Lâm Diễm T, sinh năm 1986 (là mẹ ruột, vợ bị hại nhưng đã ly hôn)

Trú tại: trú tại: Số II, đường T, Phường C, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Diễm T: ông Phạm Minh Tr, sinh năm 1947 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Số III, Khóm E, Phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị N, sinh năm 1955 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Số II, đường T, Phường C, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cáo trạng số: 20/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Huỳnh Quốc C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015). Hành vi bị truy tố của bị cáo như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 08/04/2020, sau khi bỏ nhánh cây dương phía sau khu tập thể Công ty H, Huỳnh Quốc C điều khiển xe ô tô biển số 84C-XXX.34 (của Công ty Cổ phần Công trình đô thị T nơi bị cáo làm thuê) đi về khu vực công ty Nhiệt điện D. Khi ra khỏi cổng Khu tập thể của công ty Hồ N (là đường nhánh) đến đoạn đường giao nhau của đường nhựa nông thôn (đường chính) thuộc ấp M, xã D, thị xã D. Bị cáo C cho xe chạy ở phần đường bên trái và quan sát thấy phía trước thấy xe chở nước tưới đường và có nói với Phạm Văn L và Dương Thái B ngồi cùng xe là chiều này hai anh nghỉ khỏi phải tưới cây nên không quan sát đoạn đường bên trái. Cùng lúc đó có anh Tạ Hoàng H điều khiển xe mô tô biển số 50C1-XXXX chạy từ bên trái ngang qua đầu xe. Do không phát hiện có xe chạy đến nên bị cáo chạy xe thẳng ra đường nhựa và đụng ngang bên phải xe mô tô. Bị cáo thắng xe lại và xe bị trượt đi một đoạn mới dừng lại. Làm anh H cùng với xe mô tô ngã xuống đường phía trước bên phải đầu xe ô tô. Sau đó, bị cáo cùng hai người ngồi cùng xe chở anh H đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Trà Vinh. Đến 19 giờ 35 phút cùng ngày, anh H chết tại nhà.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 109/KLGĐ ngày 16/04/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Trà Vinh kết luận nguyên nhân dẫn đến ông Tạ Hoàng H chết là do chấn thương sọ não nặng.

Hiện trường vụ án được xác định như sau: Mặt đường nơi xảy ra tai nạn giao thông đoạn đường giao nhau giữa đường đi thẳng từ hướng Khu tập thể Hồ N đến đường dẫn số 2 với đường từ khu văn phòng về hướng khu vận hành công ty Nhiệt điện D (Cắt ngang khu tập thể Hồ N). Mặt đường Khu tập thể Hồ N rộng 07m; mặt đường vào khu văn phòng rộng 6,8m; mặt đường đá sâm, tầm nhìn không bị che khuất; phía bên trái lề đường theo hướng từ khu tập thể Hồ N về đường dẫn số 02 có hàng rào khu văn phòng làm bằng bê tông xi măng, phía trên có khung sắt được sơn màu trắng có dạng hình bán nguyệt. Chọn lề chuẩn là mép đường bên trái theo hướng từ khu văn phòng về hướng công ty Nhiệt điện D. Tâm vùng đụng xe ô tô biển số 84C-004.34 đụng ngang thân xe mô tô biển số 50C1- 5025: Vị Tr cách lề chuẩn 4,9m; cách đầu cày do gác chân trước xe mô tô là 01m; và cách đầu cày do tay cầm bên trái xe mô tô là 1,78m; cách hàng rào khu văn phòng là 9m.

Tại Bảng phân tích lỗi ngày 01/6/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải kết luận: nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông ngày 08/4/2020 là do Huỳnh Quốc C có hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông vi phạm vào khoản 3 Điều 24, khoản 1 Điều 9; khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.

Tại khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ có quy định như sau: “Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”.

Tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ có quy định như sau: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Tại khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ có quy định như sau: “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Trong phần xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Quốc C thừa nhận toàn bộ hành vi và lỗi của bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải mô tả và truy tố.

Trong phần tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Quốc C như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 năm tới 04 năm.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại tổng cộng 200.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên đề nghị không xem xét. Đối với Công ty Cổ phần công trình đô thị Trà Vinh có mua bảo hiểm cho xe ô tô biển số 84C-004.34 nhưng không có yêu cầu giải quyết bồi thường bảo hiểm xe trong vụ án nên đề nghị không xem xét.

- Về vật chứng: Bà Trần Thị Nh là mẹ vợ của bị hai có yêu cầu nhận lại xe mô tô biển số 50C1-XXXXdo bị hại điều khiển. Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm ông Tạ Văn M, bà Thạch Thị H cũng thừa nhận xe mô tô là do bà Nh cho bị hại mượn đi làm. Vì vậy, vị Kiểm sát viên đề nghị giao trả xe mô tô biển số 84C1-5XXX, số khung: C100M0220434; số máy: CT00ME0220434 cho bà Trần Thị Nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Quốc C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lờ i khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liê ̣u khác có trong hồ sơ vu ̣ án. Vớ i các tinh tiết và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, Hô ̣i đồng xét xử có đủ

̀ chứ ng cứ để xác đi ̣nh: Vào chiều ngày 08 tháng 4 năm 2020, bị cáo Huỳnh Quốc C có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 84C-004.34 đụng vào xe mô tô biển số 50C1-XXXXdo bi hại Tạ Hoàng H điều khiển. Kết quả làm bị hại chết sau khi được đưa đi cấp cứu. Lỗi gây tai nạn hoàn toàn là do bị cáo gây ra do vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 24, khoản 1 Điều 9; khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Như vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Quốc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố bị cáo Huỳnh Quốc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không khiếu nại hay có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của anh Tạ Hoàng H. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi do bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử đã xem xét hết các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, gia đình bị hại có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Do thiếu quan sát và không tuân thủ quy định của pháp luật khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà bị cáo đã gây ra hậu quả làm ông Tạ Hoàng H tử vong. Đây là sự mất mát và tổn thương vô cùng to lớn, không gì bù đắp được đối với gia đình và thân nhân của bị hại. Bị cáo phải bị đưa ra Tòa án xét xử và chịu hình phạt thích đáng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, với mức độ lỗi của hành vi phạm tội của bị cáo, cộng với việc bị cáo được xem xét nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; gia đình bị hại cũng xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy có thể xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và phù hợp quy định của pháp luật. Thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam, phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên. Vì vậy, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Huỳnh Quốc C của ông Phạm Minh Tr là người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Diễm T và người đại diện hợp pháp khác của bị hại không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Ông Phạm Minh Tr là người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Diễm T cũng đã có lời trình bày thống nhất không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Công ty cổ phần Công trình đô thị Trà Vinh không có yêu cầu bảo hiểm bồi thường trong vụ án nên không xem xét.

Về vật chứng: Bà Trần Thị Nh là mẹ vợ của bị hai có yêu cầu nhận lại xe mô tô biển số 50C1-5025. Mặc dù không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe mô tô nhưng được người đại diện hợp pháp của bị hại gồm ông Tạ Văn M, bà Thạch Thị H cũng thừa nhận xe mô tô là do bà Nh cho bị hại mượn đi làm. Tại thời điểm gây tai nạn, bị hại là người quản lý hợp pháp xe mô tô. Vì vậy, giao trả xe mô tô biển số 84C1-5XXX, số khung: C100M0220434; số máy: CT00ME0220434 cho bà Trần Thị Nh là phù hợp quy định pháp luật. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng xe mô tô biển số 84C1-5XXX thì giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về tố tụng dân sự.

Về án phí: bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Quốc C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 03 (Ba) năm. Thời gian thử thách tình từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Quốc C cho Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bi cáo bồi thường thêm. Ông Phạm Minh Tr là người đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Diễm T cũng đã có lời trình bày thống nhất không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Công ty cổ phần Công trình đô thị Trà Vinh không yêu cầu bảo hiểm bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên giao trả lại xe mô tô biển số 84C1-5XXX, số khung: C100M0220434; số máy: CT00ME0220434 cho bà Trần Thị Nh. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng xe mô tô biển số 84C1-5XXX thì giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về tố tụng dân sự

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a, c, g khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Huỳnh Quốc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo Huỳnh Quốc C; người đại diện hợp pháp của bị hại gồm ông Tạ Văn M, bà Thạch Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Lâm Diễm T là người đại diện hợp pháp của em Tạ Hoàng Bảo N và em Tạ Hoàng Bảo Th là người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị Nh vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ