vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 21/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Quang P tên gọi khác (Đinh Văn Phong) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22/10/2019. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số mà túy là Methamphetamine còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu; (Vật chứng có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Quang P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Quang P tên gọi khác (Đinh Văn Phong) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày 21/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú - Ông Phạm Văn Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/HS-ST ngày 02/01/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXXST-HS ngày 07/02/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Quang P (tên gọi khác: Đinh Văn P) sinh năm: 1973, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: số nhà 33, ngõ 171, đường T, phố 7, phường Đ, thành phố N, tỉnh N.. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn C và con bà: Đinh Thị C; Vợ: Nguyễn Thị P; Bị cáo có 02 con: con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005. Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/10/2019 đến ngày 25/10/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.

Ng êi bµo ch÷a cho bÞ c¸o: Bà Ngô Thị L - Trî gióp viªn ph¸p lý, thuéc Trung t©m trî gióp ph¸p lý Nhµ n íc tØnh Ninh B×nh. Có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1982

Trú tại: số nhà 33, ngõ 171, đường T, phố 7, phường Đ, Thành phố N, tỉnh N. Có mặt

Ng êi chứng kiến:

- Anh Nguyễn Văn H - sinh năm: 1957

- Anh Vũ Đức C, sinh năm: 1952

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đinh Quang P là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 14 giờ 45 phút ngày 22/10/2019, Đinh Quang P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 35B1 – 276.83 đi từ nhà sang khu vực xã Y, huyện Ý , tỉnh N tìm mua ma túy để sử dụng. P mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng 01 túi ma túy. Sau khi mua được ma túy, P cho vào túi áo ngực bên trái điều khiển xe về thành phố N tìm nơi sử dụng. Khi P điều khiển xe mô tô đến khu vực đường Đ, phố 8, phường Đ, thành phố N thì bị Tổ công tác Công an phường N phối hợp với công an phường Đ, thành phố N dừng xe để kiểm tra. Biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình, Đinh Quang P đã tự lấy từ trong túi áo ngực bên trái ra 01 túi nilon màu trắng, trong có chứa chất tinh thể màu trắng vừa mua được giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đây là ma túy vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đưa Đinh Quang P cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở công an phường Đ, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Đinh Quang P 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 35B1 – 276.83.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đinh Quang P là 0,44 gam, ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 317/KLGĐ - PC09 - MT ngày 24/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,4382 (không phảy bốn nghìn ba trăm tám mươi hai) gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3531 gam, là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì theo quy định, trên mặt phong bì có ghi số 317/KLGĐ-MT.

Tại bản Cáo trạng số 188/CT-VKS ngày 31/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Đinh Quang P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đinh Quang P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố N giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Đinh Quang P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm p, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Quang P từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2019.

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ, bao gói niêm phong ban đầu;

Người bào chữa cho bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo như sau: Nhất trí với tội danh của bị cáo Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận ăn năn hối cải hành vi của mình; bị cáo là người khuyết tật nặng, khi bị cơ quan công an yêu cầu kiểm tra hành chính thì bị cáo đã tự giác lấy gói ma túy ra giao nộp. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm p, điểm r, điểm s, khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Bị cáo được miễn nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Quang P không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Đinh Quang P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ xác định ngày 22/10/2019 bị cáo P có hành vi cất giữ khối lượng 0,4382gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo lại không từ bỏ ma túy, tu dưỡng rèn luyện, để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn đi vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi lượng mức hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi bị Tổ công tác kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác lấy ma túy giao nộp và khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người khuyết tật nặng theo giấy xác nhận khuyết tật số 66 ngày 30/05/2014 là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm p, điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đinh Quang P tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Đinh Quang P khai mua của một người đàn ông không quen biết ở xã Y, huyện Ý , tỉnh N nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cở sở điều tra, làm rõ.

- Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy có khối lượng 0,440 gam, đã trích một phần ký hiệu M gửi đi giám định, số ma túy còn lại là 0,3531 gam là Methamphetamine, Cơ quan giám định hoàn trả lại cùng toàn bộ vỏ, giấy gói ban đầu, vỏ bao gói niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 35B1 – 276.83 đã thu giữ của bị cáo P quá trình điều tra xác định chiếc xe trên đăng ký mang tên anh Hoàng Xuân H, sinh năm 1992, trú tại tổ 7, phường T, thành phố T, tỉnh N đã bán lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị P là vợ của bị cáo Đinh Quang P. Ngày 22/10/2019, bị cáo P sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy chị P không biết. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị P, chị P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì. Việc trả lại tài sản trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm p, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Quang P tên gọi khác (Đinh Văn Phong) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22/10/2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số mà túy là Methamphetamine còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu; (Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 02 năm 2020 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo P.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ