vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 07/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Thị T: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2019. Về vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 45 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HSST
Ngày 07/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Nam;

2. Bà Hoàng Thị Tuyết Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2020/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 24/4/2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Phạm Thị T; giới tính: Nữ; sinh ngày 08 tháng 3 năm 1990 tại Quảng Bình; nơi ĐKHKTT: Thôn K 1, xã A, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông: Phạm Văn A, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị M (đã chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; chồng: Hà Văn N, sinh năm 1990 và 01 con Hà Tiến Đ, sinh năm 2016.

Tiền án; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 26/12/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh Quảng Trị đến nay, có mặt.

Người làm chứng: Hoàng Hạ Thanh T1, sinh năm 1993; trú tại: Khu phố M, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 17/12/2019, Phạm Thị T đến trước nhà trọ số 22 đường Mạc Đĩnh Chi (thuộc Khu phố N, Phường H, thành phố Đ) gặp 01 nam thanh niên tên Cu Gđưa cho T10 viên ma túy tổng hợp hồng phiến để T đi đến khu vực cuối đường Đặng Dung (thuộc Khu phố N, Phường H, thành phố Đ) bán cho Hoàng Hạ Thanh T1 (tên gọi khác: Cu T2, nơi cư trú: Khu phố M, Phường H, thành phố Đ) và nhận lại từ T1 650.000 đồng. Tcầm số ma túy trên tay trái của mình đi đến khu vực cuối đường Đặng Dung gặp T1 nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 10 viên ma túy trên. Hoàng Hạ Thanh T1 bỏ chạy.

Về vật chứng thu giữ:

+ 01 đoạn ống nhựa màu đỏ có sọc đỏ trắng được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa 10 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M;

+ 01 điện thoại di động hiệu Titel, màu đen, bàn phím số, có số thuê bao 0945.700.159 và số 0918.641.586; có số Imel1: 352724101782661 và số Imeli2: 352724101782679, đã qua sử dụng;

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - Click, màu đỏ đen, biển kiểm soát 74H4 - 6481, số máy: JF18E - 0229979, số khung: RLHJF1803AY777417, đã qua sử dụng;

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSĐH ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị T từ 27 tháng đến 30 tháng tù.

Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì ký hiệu mã số PS3A 102831 có chữ ký của người niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Quảng Trị;

+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Titel, màu đen, bàn phím số, có số thuê bao 0945.700.159 và số 0918.641.586; có số Imel1: 352724101782661 và số Imeli2: 352724101782679, đã qua sử dụng;

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin Tòa án xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm về với gia đình, chăm sóc con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp các các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 17/12/2019, Phạm Thị T nhận 10 viên ma túy của 01 người tên Cu Gái. Sau đó, Hoàng Hạ Thanh T1 gọi điện cho Phạm Thị T hỏi mua 10 viên ma túy, hai bên thỏa thuận giá bán 650.000 đồng và hẹn đến khu vực cuối đường Đặng Dung gần đình làng Điếu Ngao (thuộc Khu phố N, Phường H, thành phố Đ) để giao ma túy. Phạm Thị T cầm số ma túy trên tay trái của mình đi đến khu vực cuối đường Đặng Dung gặp T1 nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị Công an thành phố Đông Hà phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 16/KLGĐ ngày 20/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 10 viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi đến giám định có khối lượng là 1,0290 gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định số 73/2018/Đ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.

Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định khung hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Xét về tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều mặt cho đời sống xã hội. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo với mức án nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần phải ban hành quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án.

Quá trình điều tra đã xác định được người thanh niên tên Cu G là Trần Văn T2 nhưng không chứng minh được việc Trần Văn T2 đã giao ma túy cho T nên không có cơ sở xử lý.

Đối với Hoàng Hạ Thanh T1 là người mua ma túy của bị cáo để sử dụng đã bị Công an thành phố Đông Hà xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.

Về vật chứng:

Cơ quan Điều tra thu giữ số ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì ký hiệu mã số PS3A 102831 có chữ ký của người niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Quảng Trị. Ma tuý là vật cấm lưu hành, các bao gói không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

Điện thoại di động hiệu Titel, màu đen, bàn phím số, có số thuê bao 0945.700.159 và số 0918.641.586; có số Imel1: 352724101782661 và số Imeli2: 352724101782679, đã qua sử dụng, bị cáo đã dùng liên lạc với Hoàng Hạ Thanh T1 để bán ma túy nên cần tịch thu để sung quỹ nhà nước.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra Công an thành phố Đông Hà đã trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Click, màu đỏ đen, biển kiểm soát 74H4 - 6481, số máy: JF18E - 0229979, số khung: RLHJF1803AY777417 cho chủ sở hữu phương tiện là bà Trần Nguyễn Khánh Q. Bà Q không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt: Phạm Thị T: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2019.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử:

Tịch thu và tiêu hủy 01 bao niêm phong đựng toàn bộ mẫu vật là số ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì ký hiệu mã số PS3A 102831 có chữ ký của người niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Quảng Trị.

Tịch thu để sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Titel, màu đen, bàn phím số, có số thuê bao 0945.700.159 và số 0918.641.586; có số Imel1: 352724101782661 và số Imeli2: 352724101782679, đã qua sử dụng

Các vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà lập ngày 17/4/2020.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ