- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 21/2020/HS-ST Ngày: 25/3/2020 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Châu Thị Tuyết N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HS-ST Ngày: 25/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tống Thị Kim Điền;
Ông Ngô Hữu Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên
Trong ngày 25/3/2020 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Châu Thị Tuyết N; Giới tính: Nữ; sinh năm 1987 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Số A Nguyễn B, phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Châu Ngọc T, sinh năm 1963 và con bà Bùi Thị V, sinh năm 1967; Anh chị em: Có 03 người em (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1997); Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2019. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Châu Anh D, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 45 ngày 24/10/2019, tại trước địa chỉ Số B Trần Xuân S, khu phố X, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 7, bắt quả tang Châu Thị Tuyết N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong tay lái xe máy biển số 49G1-494.07 do Ngân đang điều khiển 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và bên trong áo bên trái của Ngân 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Châu Thị Tuyết N, tại địa chỉ Số C Nguyễn B, phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, phát hiện và thu giữ trong hộc bàn trang điểm 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Nguồn ma túy, Ngân mua của Đặng Trần Q ở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, với giá 5.500.000 đồng, Ngân mua về để sử dụng cá nhân.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Châu Thị Tuyết N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định số 2003/KLGĐ-H ngày 01/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Châu Thị Tuyết N và hình dấu Công an phường Tân Hưng, Quận 7, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,6957g (năm phẩy sáu chin năm bảy gam), loại Methamphetamine.
- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Châu Thị Tuyết N và hình dấu Công an phường Tân Hưng, Quận 7, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 10,0616g (một không phẩy không sáu một sáu gam), loại Methamphetamine.
- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Châu Thị Tuyết N và hình dấu Công an phường 1, Quận 5, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 8,0727g (tám phẩy không bảy hai bảy gam), loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 21/CT- VKSQ7 ngày 16/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Châu Thị Tuyết N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù. Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ chất ma túy phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên và không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ Kết luận giám định số 2003/KLGĐ-H ngày 01/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 24/10/2019, bị cáo Châu Thị Tuyết N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Khối lượng ma túy bị thu giữ khi bị cáo N bị bắt quả tang là 15,7573g loại Methamphetamine và khi khám xét nơi ở của bị cáo N là 8,0727g loại Methamphetamine, tổng khối lượng ma túy bị cáo Ngân phải chịu trách nhiệm hình sự là 23,8300g loại Methamphetamine một cách trái pháp luật. Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, tinh vi, nguy hiểm cho xã hội vì tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng để có ma túy thỏa mãn cơn nghiện nên đã phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với Đặng Trần Q đã bán ma túy cho Châu Thị Tuyết N, bị bắt trong vụ án khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh điều tra theo thẩm quyền, xử lý sau.
Xử lý vật chứng vụ án:
- Thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Châu Thị Tuyết N:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, thuê bao số 0905681839. Ngân sử dụng để liên lạc với Đặng Trần Q mua ma túy. Bị cáo Ngân sử dụng liên lạc mua ma túy sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
+ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 5,6957g loại Methamphetamine). Đây là vật cấm lưu hành, không còn sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 10,0616g loại Methamphetamine). Đây là vật cấm lưu hành, không còn sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 xe máy hiệu Yamaha loại Janus biển số 49G1-494.07, số khung: RLCSEC820JY100509, số máy: E3Y8E100514. Qua xác minh, xe do em ruột của bị cáo Châu Thị Tuyết N là ông Châu Anh D đứng tên chủ sở hữu. Ông D cho bị cáo Ngân mượn xe để đi lại. Việc bị cáo Ngân sử dụng xe để đi mua và tàng trữ ma túy, ông D không biết nên xét trả lại cho ông D.
- Thu giữ khi khám xét nơi ở bị cáo Châu Thị Tuyết N:
+ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 8,0727g loại Methamphetamine. Đây là vật cấm lưu hành, không còn sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
+ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Châu Thị Tuyết N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Châu Thị Tuyết N 06 (Sáu) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2019.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 5,6957g loại Methamphetamine); 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 10,0616g loại Methamphetamine); 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, có khối lượng 8,0727g loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của bị cáo Châu Thị Tuyết N.
- Trả lại 01 xe máy hiệu Yamaha loại Janus biển số 49G1-494.07, số khung: RLCSEC820JY100509, số máy: E3Y8E100514 cho ông Châu Anh D.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, thuê bao số 0905681839 thu giữ của bị cáo Châu Thị Tuyết N.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 37 ngày 03/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).
3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/3/2020), bị cáo, ông D được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Quận 7; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu sổ án; - Lưu hồ sơ (Tk. Loan). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Chí Hiếu |