- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HS-ST Ngày 05-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Trung T, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1978 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Đường D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá T và bà Lã Thị Kim O; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ ngày 10/01/2020 đến ngày 12/01/2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Hòa Quang T; vắng mặt.
+ Anh Trần Viết M; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện ma túy nên T thường mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ ngày 10/01/2020, T một mình đi bộ đến khu vực đường tàu B, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 100.000 đồng được 02 gói ma túy (Heroin). T cất 02 gói ma túy vào cạp quần đang mặc rồi đi về nhà anh Trịnh Văn M ở đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng để giúp việc dọn dẹp nhà cửa. Anh M có việc bận nên rời khỏi nhà, đến khoảng 14 giờ cùng ngày, anh Hòa Quang K và Trần Viết I đến nhà anh M chơi. Tại đây, K nói muốn mua ma túy để sử dụng nên T đã nảy sinh ý định bán cho K 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Khi T vừa nhận tiền và đưa cho K 01 gói ma túy xong thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại Bản Kết luận giám định số 33/KLGĐ ngày 11/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận:
Chất bột màu trắng chứa trong gói nilong thu giữ của Lê Trung T là ma túy, có khối lượng 0,02 gam, là loại Heroin.
Chất bột màu trắng chứa trong gói nilong thu giữ của Hòa Quang K là ma túy, có khối lượng 0,01 gam, là loại Heroin.
Vật chứng của vụ án: Số tiền 100.000 đồng và 01 phong bì niêm phong số 33/2020/PC09 chứa vỏ bao bì hoàn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Tại Bản Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 18/3/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lê Trung T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trung T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo Bản Cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Vể trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo khai không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 33/2020/PC09.
- Số tiền 100.000 đồng đã thu giữ là tiền thu lời bất chính nên nộp Ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Trung T đã bán ma túy trái phép chất ma túy cho Hòa Quang K 01 gói ma túy (Heroin) có khối lượng 0,01 gam với giá 100.000 đồng tại đường Đ, phường Vạn V, quận N, thành phố Hải Phòng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Hành vi của Lê Trung T đã đủ yếu tố cầu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Lê Trung T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, góp phần làm suy giảm sức khỏe của cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo: Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 33/2020/PC09; Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước 100.000 đồng là tiền thu lời bất chính.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hòa Quang K không đủ khối lượng để xử lý về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhân thân K không có tiền án về tội phạm ma túy, cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với K. Trong vụ án này, Trịnh Quang M và Trần Viết I không biết và không tham gia vào việc mua bán ma túy giữa Lê Trung T và Hòa Quang K nên không có căn cứ để khởi tố. Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T, hiện chưa làm rõ được lai lịch địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ căn cứ xử lý sau.
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt Lê Trung T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trừ cho bị cáo 02 ngày bị tạm giữ từ 10/01/2020 đến ngày 12/01/2020. Bị cáo còn phải chấp hành 29 tháng 28 ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 33/2020/PC09;
+ Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Lê Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Lê Trung T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Ngô Quyền; - VKSND thành phố Hải Phòng; - CQĐT Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan THA Hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - PV06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |