vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 24/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T mức án 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05.01.2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày: 24/3/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hưng Quang – Giáo viên hưu trí.

2. Ông Nguyễn Trọng Di – Giáo viên hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên, Thư ký Tòa án huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2020/HSST, ngày 06/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Xuân T, sinh ngày 09.12.2000; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Phạm Thanh L(chết) và mẹ bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1972 hiện ở Khu phố P, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Anh, chị, em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt từ ngày 05.01.2020, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Xuân T là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 09 giờ 10 ngày 05.01.2020, T đi xe thồ đến khu vực Cầu Nam thị trấn C nhờ một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ mua 500.000 đồng được 05 tép Heroin. T cho lại người thanh niên T nhờ mua ma túy 01 tép Heroin, còn lại 04 tép Heroin T mang về cất giấu trong phòng ngủ tại nhà riêng thuộc Khu phố P, thị trấn C, Tuy Phong mục đích để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05.01.2020, tổ công tác Đồn Biên Phòng H phối hợp với Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Phạm Xuân T phát hiện bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: Thu giữ tại phòng ngủ nơi Phạm Xuân T đang ngồi có 04 đoạn ống nhựa bao gồm: 01 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng có kích thước 0,8cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 01cm; 02 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 1,8cm; tất cả các đoạn đều được hàn kín hai đầu và bên trong có chứa chất rắn màu trắng dạng nén.

Tại bản Kết luận giám định số 10/KLGĐ-PC09 ngày 08.01.2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận:

+ Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1257 gam là Heroin.

Về tang vật chứng: Đã chuyển chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 04 đoạn ống nhựa bao gồm: 01 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng có kích thước 0,8cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 01cm; 02 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 1,8cm và 0,0436 gam mẫu M hoàn lại sau giám định.

h n t a th m

kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số: 24/CT-VKS-TP ngày 05/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T mức án từ 12 (mười hai tháng) năm đến 18 (mươi tám) tháng tù giam.

Về phần xử lý tang vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 04 đoạn ống nhựa bao gồm: 01 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng có kích thước 0,8cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 01cm; 02 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 1,8cm và 0,0436 gam mẫu M hoàn lại sau giám định.

- Đối với người thanh niên không rõ lai lịch bị cáo nhờ mua ma túy ở khu vực Cầu Nam, thị trấn C sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa và đồng ý quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện T.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng c ng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Xuân T, đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 05.01.2020, bị cáo Phạm Xuân T đang cất giấu đang cất giấu 04 tép Heroin có khối lượng 0,1257 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 10/KLGĐ-PC09 ngày 08.01.2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận:

+ Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1257 gam là Heroin.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Ma tuý, là loại độc dược là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép, đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Phạm Xuân T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

Về xử lý tang, vật chứng của vụ án:

- Đối với 04 đoạn ống nhựa bao gồm: 01 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng có kích thước 0,8cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 01cm; 02 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 1,8cm và 0,0436 gam mẫu M hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 10 là chất ma túy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng thấp nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T mức án 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05.01.2020.

[2] Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 04 đoạn ống nhựa bao gồm: 01 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng có kích thước 0,8cm x 02cm; 01 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 01cm; 02 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng có kích thước 0,8cm x 1,8cm và 0,0436 gam mẫu M hoàn lại sau giám định (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/3/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T)

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Xuân T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ