vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 02 (Hai) năm tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2019. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày 28/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Phạm Hồng Thiêm

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký TAND huyện Thái Thụy

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2020/TLST-HS ngày 10/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 17/4/2020 đối với bị cáo:

Lê Hoàng T, sinh ngày 14/4/1988 tại xã Tr, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Tr, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H (sinh năm 1963) và bà Đặng Thị O (sinh năm 1963); Có vợ là: Lê Thị L (sinh năm 1988); Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2015); Tiền án: 01 – Tại bản án số 47/2016/HSST ngày 29/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", đến ngày 24/8/2018 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương; Tiền sự: 01 – Tại quyết định số 03/2019/QĐ-TA ngày 06/12/2019, Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình thời hạn 20 tháng; Nhân thân: Năm 2006 phạm tội "Lưu hành tiền giả" tại bản án số 74/2006/HSST ngày 11/5/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và bản án số 852/2006/HSPT ngày 30/8/2006 của Tòa án nhân dân tối cao đều xử phạt 18 tháng tù giam, bị cáo đã chấp hành xong. Năm 2011 phạm tội "Đánh bạc" tại bản án số 41/2011/HSST ngày 26/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy và bản án số 49/2011//HSPT ngày 08/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đều xử phạt 09 tháng tù giam, bị cáo đã chấp hành xong; Bị tạm giữ từ ngày 16/12/2019 đến ngày 19/12/2019 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Thái Thụy. (Có mặt)

- Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Công C, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn B, xã Tr, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)

- Ông Tạ Xuân K, sinh năm 1954; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Tr, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 16/12/2019, tổ công tác Công an huyện Thái Thụy phối hợp cùng Công an xã Tr đưa Lê Hoàng T đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tr để làm thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 03/2019/QĐ-TA ngày 06/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Tạ Xuân K và ông Nguyễn Công C, T tự giác giao nộp 01 gói được gói bằng giấy có một mặt màu vàng có in chữ và hình nhiều màu sắc, một mặt màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục được lấy ra trong túi quần đang mặc bên phải phía trước, T khai đó là ma túy loại Heroine vừa mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để sử dụng cho bản thân. Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong 01 gói ma túy (niêm phong Mẫu số A1) đưa đi giám định. Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến ma túy.

Kết luận giám định số 472/KLGĐ-PC09 ngày 17/12/2019 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu số A1 là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1754gam (Không phẩy một nghìn bảy trăm năm mươi tư gam). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSTT ngày 09/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Lê Hoàng T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2019, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,1405gam Heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 472/KLGĐ của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến ông Tạ Xuân K và ông Nguyễn Công C. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Thái Thụy lập ngày 16/12/2019; Biên bản khám xét ngày 16/12/2019; Các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy lập ngày 16/12/2019; Kết luận giám định số 472/KLGĐ-PC09 ngày 17/12/2019 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Hoàng T đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của nhà nước. Tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp mua về và cất giữ trong người để sử dụng cho bản thân với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người đã từng phạm tội, đã phải chấp hành hình phạt tù nhiều lần, hiểu được sự trừng phạt răn đe của pháp luật, thậm chí trước khi phạm tội lần này bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích và còn bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy và chăm sóc đối tượng xã hội tỉnh Thái Bình thời hạn 20 tháng theo quyết định số 03/2019/QĐ-TA ngày 06/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện và cải tạo bản thân mà lại tiếp tục phạm tội đã thể hiện sự buông thả trong lối sống và coi thường pháp luật. Do đó, việc đưa ra xét xử bị cáo là đúng quy định của pháp luật hình sự và cần phải áp dụng một mức án thật nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết một tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời. Bản thân bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 0,1405gam Heroine hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 472/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy: T khai là mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng ở khu 4 thị trấn D nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 02 (Hai) năm tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 16/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,1405 gam Heroine hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói mẫu số A1 trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 472/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy ngày 10/3/2020).

3. Về án phí:

Bị cáo Lê Hoàng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 28/4/2020.

Cỡ chữ