vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2019 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Luu Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày: 25/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P Q – TỈNH KIÊN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Phước Lộc

2/ Bà Nguyễn Thị Thu Ba

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PQ, tỉnh Kiên Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PQ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Lưu Văn T sinh năm: 1968, tại: H G; Nơi ĐKTT: Khu phố 5, thị trấn D Đ, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn T và bà Nguyễn Thị Ơ; Vợ: Nguyễn Thị H; con; 02 người: lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1990 tiền án: 01 lần, ngày 31/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện PQ xử phạt 02 năm tù, về tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Đến ngày 10/10/2018 chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích.;

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2019 (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 21/10/2019, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên T dùng điện thoại di động liên lạc với một người đàn ông tên T (chưa xác định được nhân thân) hỏi mua 4.000.000 đồng ma tuý, T đồng ý và hẹn giao ma tuý tại khu vực sân bay cũ thuộc khu phố 10, thị trấn DĐ, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang. Khoảng 30 phút sau, T đi đến điểm hẹn nhưng không thấy T nên T gọi điện thoại cho T thì T chỉ cho T biết nơi để ma tuý và kêu T đến lấy. Sau đó, T đi theo chỉ dẫn của T đến góc đường đầu sân bay cũ thì thấy gói thuốc lá bên trong có 05 bịch ma tuý và 01 bịch nylon bên trong có 03 viên thuốc lắc, T lấy số ma tuý trên bỏ vào túi quần và lấy 4.000.000 đồng đưa vào bao thuốc lá để lại chỗ cũ rồi đi về. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi trên đường Hoàng Văn Thụ, thuộc khu phố 5, thị trấn DĐ, huyện PQ thì bị Công an huyện PQ kiểm tra phát hiện T đang tàng trữ trái phép ma tuý nên lập biên bản bắt quả tang. Ngày 28/10/2019, Lưu Văn T bị Cơ quan điều tra – Công an huyện PQ khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

- 05 bịch nylon màu trắng, có kích thước lần lượt như sau: 01 bịch kích thước 3,5cm x 0,5cm; 02 bịch có kích thước 1,5cm x 2,5cm và 02 bịch có kích thước 1,2cm x 2,2cm, bên trong các bịch có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong.

- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu xanh, có kích thước 04cm x 06 cm, bên trong có chứa 03 viên nén hình tròn. Trong đó, 01 viên màu đỏ, 01 viên màu xanh lá cây và 01 viên màu xanh dương bị bể, đã được niêm phong.

- 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI, màu hồng, số IMEI 1: 86957303061407, số IMEI 2: 86957303062353.

Tại bản Kết luận giám định số: 648/KL-PY ngày 25/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon trong suốt hàn kín có kích thước 3,5 cm x 05 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 3,0089 gam.

Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín có kích thước 1,5 cm x 2,5 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4126 gam.

Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín có kích thước 1,2 cm x 2,2 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3536 gam.

01 viên nén hình tròn màu đỏ, 01 viên nén hình tròn màu xanh và 01 viên nén hình tròn màu xanh dương bị vỡ, không rõ hình dạng chứa trong 01 bịch ny lon màu trắng, có rãnh gài màu xanh kích thước 04 cm x 06 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,9308 gam.

Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy là 4,7059 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 25/10/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSPQ ngày 16 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ đã truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội đối với bị cáo. Qua phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lưu Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 2,6730 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu được niêm phong; 0,8414 gam MDMA và bao gói đựng mẫu được niêm phong;

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Huawei, màu hồng, số IMEI 1: 86957303061407, số IMEI 2: 86957303062353 đã qua sử dụng đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Đối với người tên T bán ma túy cho T, Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố và lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện PQ, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ: Vào khoảng 3 giờ 30 phút ngày 21/10/2019 Công an huyện PQ đang tuần tra trên tuyến đường H V T thuộc khu phố 5, thị trấn DĐ thì phát hiện Lưu Văn T có biểu hiện nghi vấn đang đi bộ trên đường tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong túi áo T đang mặc có chứa 01 bịch ny lon bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất. Ngoài ra trong túi quần phía sau có 04 bịch ny lon bên trong chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và 01 bịch ny lon bên trong chứa 03 viên nén màu đỏ, xanh lá cây và xanh dương, T thừa nhận là ma túy mua về để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số: 648/KL-PY ngày 25/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon trong suốt hàn kín có kích thước 3,5 cm x 05 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 3,0089 gam.

Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín có kích thước 1,5 cm x 2,5 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4126 gam.

Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất chứa trong 02 bịch nylon trong suốt hàn kín có kích thước 1,2 cm x 2,2 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3536 gam.

01 viên nén hình tròn màu đỏ, 01 viên nén hình tròn màu xanh và 01 viên nén hình tròn màu xanh dương bị vỡ, không rõ hình dạng chứa trong 01 bịch ny lon màu trắng, có rãnh gài màu xanh kích thước 04 cm x 06 cm, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,9308 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ Điều 4 nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng là 4,7059 gam.

Như vậy Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để xác định cáo trạng mà viện kiểm sát nhân dân huyện PQ truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức và ảnh hưởng đến phẩm giá con người. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi cất giữ trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều vi phạm pháp luật nhưng cần ma túy để sử dụng thỏa mãn nhu cầu bản thân mà bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Huawei, màu hồng, số IMEI 1: 86957303061407, số IMEI 2: 86957303062353 đã qua sử dụng đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/10/2019

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 2,6730 gam Methamphetamine và bao gói đựng mẫu được niêm phong; 0,8414 gam MDMA và bao gói đựng mẫu được niêm phong;

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Huawei, màu hồng, số IMEI 1: 86957303061407, số IMEI 2: 86957303062353 đã qua sử dụng đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự huyện PQ theo quyết định chuyển giao vật chứng số 09/QĐ-VKSPQ-HS ngày 16/01/2020)

3. Về án phí căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ