vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 03/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/01/2020. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày 20 – 5 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Tuấn Vũ

2. Bà Nguyễn Thị Mây

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2020/TLST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với:

Bị cáo Bùi Văn H, sinh năm 1974.

Nơi cư trú: Thôn D 3, xã M, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Trung H sinh năm 1947 và bà Phạm Thị K sinh năm 1949, có vợ là Bùi Thị L sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án:

Bản án số 14/2006/HSST ngày 11/01/2006, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt Bùi Văn H 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 05/4/2012 chấp hành xong hình phạt tù.

Bản án số 11/2015/HSST ngày 18/3/2015, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xử phạt Bùi Văn H 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 16/5/2017 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự từ tháng 3/1996 đến tháng 3/1998.

Bị tạm giữ từ ngày 02/01/2020 đến ngày 08/01/2020 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình; (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh M, sinh năm: 1975 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn M, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Người chứng kiến:

+ Ông Bùi Đức K, sinh năm: 1965 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn D 3, xã M, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

+ Bà Trần Thị H, sinh năm: 1950 (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn D 3, xã M, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/01/2020, tại khu vực cổng nhà của Bùi Văn H, sinh năm 1974, trú tại thôn D 3, xã M, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Kiến Xương tiến hành kiểm tra Bùi Văn H. Khi bị yêu cầu kiểm tra, H quay người đi vào trong sân nhà mình và thả từ lòng bàn tay trái xuống mặt sân bê tông ngay vị trí đứng một gói ma túy bên ngoài gói bằng giấy báo, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. H khai nhận đó là Hêrôin mục đích sử dụng cho bản thân. Công an huyện Kiến Xương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong gói ma túy trên.

Bị cáo Bùi Văn H khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/01/2020 trên đường từ xã Vũ H về đến khu vực Ủy ban nhân dân xã V, huyện Kiến Xương thì gặp M, sinh năm 1975, trú tại thôn Mộ Đ, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Mười hỏi H “Có làm tý về chơi không”. Vì cùng là người nghiện ma túy và quen biết nhau từ trước nên H hiểu là Mười bảo H có lấy Hêrôin về sử dụng không thì Mười cho. H đồng ý. Mười lấy trong người ra một gói bên ngoài gói bằng giấy báo đưa cho H. H cầm ở tay trái rồi đi về nhà, còn Mười đi đâu không rõ. Khi H đi về đến cổng nhà mình thì bị tổ công tác Công an huyện Kiến Xương bắt quả tang.

Kết luận giám định số 05/KLGĐ-PC09 ngày 02/01/2020 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,0327gam”.

Bản án số 11/2015/HSST ngày 18/3/2015, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xử phạt Bùi Văn H 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 16/5/2017 chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày 02/01/2020 H chưa nộp tiền phạt bổ sung là 5.000.000 đồng. Căn cứ Điều 69, khoản 2 Điều 70 thì H chưa được xóa án tích.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSKX ngày 08/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Bùi Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn H khai nhận toàn bộ hành vi như mô tả ở trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Văn H mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 0,0192 gam Hêrôin còn lại sau giám định và bao gói.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Bùi Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.

Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xương lập hồi 11 giờ 35 phút ngày 02/01/2020 (Bút lục số 01-02)

- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập ngày 02/01/2020 (Bút lục số 03).

- Kết luận giám định số 05/KLGĐ – PC09 ngày 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 08).

- Lời khai của người chứng kiến là ông Bùi Đức K và bà Trần Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh M.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 11 giờ 35 phút ngày 02/01/2020, tại sân nhà mình ở thôn D 3, xã M, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, bị cáo Bùi Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,0327 gam ma túy loại Hêrôin với mục đích sử dụng cho bản thân. H đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên hành vi trên của Bùi Văn H đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của nhà nước. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, có cha mẹ là người có công với cách mạng nên được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Bùi Văn H khai do bạn là M, sinh năm 1975, trú tại: Thôn Mộ Đ, xã V, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cho. Trong quá trình điều tra, M khai nhận sáng ngày 02/01/2020 có gặp H tại khu vực Ủy ban nhân dân xã V. Hai bên đứng nói chuyện với nhau một lúc, rồi H đi đâu thì Mười không rõ. Mười khẳng định không cho H ma túy như H đã khai. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương đã tiến hành đối chất nhưng không đủ căn cứ chứng minh nguồn gốc số ma túy trên là của Mười, vì vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với M.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

0,0192 gam Hêrôin còn lại sau giám định và bao gói thu giữ của bị cáo Bùi Văn H là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H pH nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/01/2020.

2.Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu giữ của Bùi Văn H được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn lại sau giám định là 0,0192 gam và bao gói được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 05/KLGD.

(Vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương ngày 16/4/2020).

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn H pH nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/5/2020.

Cỡ chữ