vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 01/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nhĩn Minh S (Nhi) phạm tội “Đánh bạc”.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 1.360.000đ (Một triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhĩn Minh Sa - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nhĩn Minh S (Nhi) phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày: 01-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 01/7/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 24/2020/TLST-HS ngày 15/6/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 25/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đối với bị cáo:

Nhĩn Minh S, sinh năm 1972 tại Long An; Tên gọi khác: Nhi; Trú tại: Tổ 7, khu phố X, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nhĩn Dét G và bà Nguyễn Thị D (đều đã chết); Bị cáo có vợ tên là Lâm Thị H (đã chết) và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2003; tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án số 31/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước kết án về tội “Đánh bạc”, xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án, bị cáo chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo; tiền sự: Không; Tại Bản án hình sự số 31/2019/HS-ST ngày 18/6/2019, bị cáo Nhĩn Minh S bị tạm giữ từ ngày 25/9/2018 đến 27/9/2018. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/5/2020, Nhĩn Minh S ngồi uống nước tại quán cà phê của chị Nguyễn Thị Trúc thuộc tổ 5, khu phố X, thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản. Lúc này có Nguyễn Thị Tuyết N, Phạm Hoàng T, Trương Thanh GI đang ngồi uống nước tại quán nên S rủ những người này đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi “T lên” thì mọi người đồng ý. Sau đó, S, N, T và GI ngồi tại ghế đá để giữa quán nước để đánh bài, S lấy một bộ bài tây loại bài 52 lá để đánh bài.

Cách thức tính tiền ăn thua như sau: Người về nhất được người thua chót trả số tiền 20.000đ, người về nhì được người thua thứ ba trả số tiền là 10.000đ, chặt 2 đỏ được 20.000đ/1 con, chặt hai đen được 10.000đ/1 con; bốn đôi thông liên tiếp chặt được ba đôi thông liên tiếp; tứ quý chặt được 3 đôi thông, đôi hai đỏ hoặc đôi hai đen; ba đôi thông chặt được một hai đỏ hoặc một hai đen.

Trong lúc đang đánh bài, Bùi Văn H đến quán cà phê uống nước, do N có quen biết H từ trước nên thấy H đến, N nói H cầm bài và đánh bài cho N, thắng thua N trả tiền thì H đồng ý. Khi H chơi được khoảng 05 ván thì lực lượng Công an đến bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 850.000đ và 52 lá bài tây đã qua sử dụng.

Vật chứng thu giữ của vụ án:

Số tiền 1.360.000đ trong đó: 850.000đ tiền thu giữ trên chiếu bạc khi bắt quả tang, 510.000đ là tiền thu giữ trên người các con bạc mang theo nhằm mục đích đánh bạc. 52 lá bài tây đã qua sử dụng.

01 xe mô tô biển số: 93P2 – 061.21, Nhãn hiệu: Boss và 01 điên thoại di động Oppo F11; 01 xe ô tô Vios biển số: 93A – 194.51; Nhãn hiệu: TOYOTA và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng; 01 xe mô tô Sirius biển số: 93C1 – 067.58 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105; 01 xe mô tô Wave biển số: 93C1 – 262.99; 01 điện thoại di động SAMSUNG và số tiền 3.233.000đ; 01 xe mô tô BLADE biển số: 93C1 – 128.93 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5. Các vật chứng trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quản Cảnh sát điều tra Công an huyện Hớn Quản đã trả lại cho chủ sơ hữu, do vậy Viện kiểm sát không đề cập đến.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS ngày 13/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Nhĩn Minh S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nhĩn Minh S phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nhĩn Minh S mức án từ 6 tháng đến 7 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Hớn Quản, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm, như sau: Ngày 12/5/2020, bị cáo đánh bài ăn tiền tại quán cà phê của chị Nguyễn Thị Trúc cùng với Nguyễn Thị Tuyết N, Phạm Hoàng T, Trương Thanh GI. Khi Bùi Văn H đến quán và chơi thay cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được khoảng 05 ván thì bị Công an huyện Hớn Quản bắt quả tang, bị công an thu giữ là 01 bộ bài tây 52 lá, 850.000đ thu giữ trên chiếu bạc, ngoài ra còn thu giữ số tiền 510.000đ trên người của những người cùng đánh bạc với bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản xác định hiện trường, phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Phạm Hoàng T, Trương Thanh GI, Nguyễn Thị Tuyết N và Bùi Văn H và phù hợp với vật chứng thu giữ được trong vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Nhĩn Minh S đánh bạc thắng thua bằng tiền, với số tiền sử dụng để đánh bạc thu giữ được của tất cả người đánh bạc cùng là 1.360.000đ. Tuy số tiền bị cáo và những người đánh bạc cùng dưới 5.000.000đ, nhưng do bị cáo là người đã bị kết án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nên đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Do đó, Quyết định truy tố số: 01/QĐ-VKS ngày 13/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Nhĩn Minh S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Hành vi của Bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là một trong những nguyên nhân gây ra hệ lụy cho xã hội. Bị cáo là người rủ rê, khởi xướng việc đánh bài ăn tiền; Bản thân của bị cáo, ngày 18/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước kết án về tội “Đánh bạc”, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách của án treo, thể hiện bị cáo là người xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, đồng thời buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án số 31/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án này buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo; số tiền sử dụng đánh bạc không lớn; gia đình có hoàn cảnh khó khăn (vợ chết sớm, một mình nuôi dạy 02 con). Đây là tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án khởi khung hình phạt là thỏa đáng.

Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Tuyết N, Phạm Hoàng T, Trương Thanh GI và Bùi Văn H số tiền thu trên chiếu bạc dưới 5.000.000đ, chưa có tiền án, tiền sự về tội này là chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, Công an huyện Hớn Quản đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nhĩn Minh S phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 6 tháng đến 7 tháng tù là có căn cứ được chấp nhận.

Xử lý vật chứng vụ án:

Đối với số tiền 1.360.000đ thu giữ tại chiếu bạc và trên người các con bạc, quá trình điều tra xác định là tiền để sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

Đối với 52 lá bài tây đã qua sử dụng là công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô Sirius biển số: 93C1 – 067.58 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 là tài sản hợp pháp của Nhĩn Minh S. Quá trình điều tra xác định không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho bị cáo Nhĩn Minh S là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô biển số: 93P2- 061.21, Nhãn hiệu: Boss và 01 điện thoại di động Oppo F11 của Trương Thanh GI; 01 xe ô tô Vios biển số: 93A- 194.51; Nhãn hiệu: TOYOTA và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng của Nguyễn Thị Tuyết N; 01 xe mô tô Wave biển số: 93C1-262.99; 01 điện thoại di động SAMSUNG và số tiền 3.233.000đ của Bùi Văn H; 01 xe mô tô BLADE biển số: 93C1-128.93 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F5 của Phạm Hoàng T là tài sản hợp pháp của các đối tượng, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Hớn Quản đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nhĩn Minh S (Nhi) phạm tội “Đánh bạc”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nhĩn Minh S (Nhi) 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của Bản này với 09 tháng tù của Bản án số 31/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, buộc bị cáo Nhĩn Minh S (Nhi) phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giữ của Bản án số 31/2019/HS-ST ngày 18/6/2019 từ ngày 25/9/2018 đến ngày 27/9/2018.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 1.360.000đ (Một triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng);

Tịch thu tiêu hủy đối với 52 lá bài tây đã qua sử dụng.

(Các vật chứng được liệt kê theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng số 0005695 ngày 16/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).

4. Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nhĩn Minh S (Nhi) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ