- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tất C "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Dương Tất C phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:21/2020/HS-PT Ngày 29 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Anh Dũng;
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thiết Hùng;
Ông Trần Việt Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại Phòng xét xử số 01 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 11/2020/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Dương Tất C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2020/HSST ngày 04 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Quảng Trị
- Bị cáo có kháng cáo:
Dương Tất Cường; giới tính: Nam; Sinh năm 1990, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H , xã T1 , huyện T , tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Photo copy; Con ông Dương Tất A, sinh năm 1961(đã chết) và con bà Lê Thị D, sinh năm 1963, hiện trú tại: Thôn H , xã T1 , huyện T , tỉnh Quảng Trị; Vợ là Bùi Thị Minh D, sinh năm 1993; Con: Dương Thảo M, sinh năm 2014;
Tiền án; tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện P1 ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện có mặt tại phiên tòa. .
Ngoài ra còn có bốn bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 14/6/2019, trong quá trình tuần tra tổ công tác Công an huyện T phát hiện trước cổng nhà ông Nguyễn Đình Đ, ở Thôn L , xã T2 , huyện T có hai đối tượng là Nguyễn Đình P (con ông Đ), Dương Tất P có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Khi phát hiện thấy lực lượng Công an, P bỏ chạy vào nhà ông Đ. Tổ công tác đã khống chế P đồng thời truy đuổi theo P1 . Khi bị khống chế P đã nuốt đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa 04 viên ma túy tổng hợp vừa mua của P1 vào bụng để phi tang. Khi lực lượng Công an truy đuổi P1 vào đến nhà thì phát hiện trong nhà có ba đối tượng khác là Lê Văn H, Nguyễn Khắc P2 cùng Nguyễn Tấn T. Tổ công tác khống chế Nguyễn Đình P1 đồng thời tiến hành kiểm tra đối với H, P1 và T. Kết quả kiểm tra phát hiện trong túi quần đùi phía trước bên trái của Lê Văn H đang mặc trên người có cất giấu 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu xanh, dán kín hai đầu, bên trong đoạn ống hút này có chứa 30 viên ma túy tổng hợp. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của các đối tượng Nguyễn Đình P1 , Nguyễn Khắc P2 và Lê Văn H. Kết quả khám xét phát hiện trong nhà kho tại nhà của Nguyễn Đình P1 có 02 viên ma túy tổng hợp.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các đối tượng khai nhận việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lê Văn H , Nguyễn Khắc P2 và Nguyễn Đình P1 được thể hện như sau:
Vào trưa ngày 12/6/2019, P2 đưa cho H 3.000.000 đồng và thống nhất với nhau dùng số tiền này mua ma túy tổng hợp về để vừa sử dụng, vừa bán lại kiếm lời. H lên thành phố Đ gặp một người thanh niên tên C1 mua 45 viên ma túy tổng hợp với giá 3.000.000 đồng. Tối ngày 12/6/2019, P2 và H qua nhà P1 chơi, tại đây cả ba cùng nhau sử dụng hết 03 viên ma túy. Đến tối ngày 14/6/2019, H tiếp tục đến nhà của P1 chơi, tại đây H gặp P2 và T. Khi đến nhà P1 , H mang theo 42 viên ma túy nhưng không đưa ra hết mà chỉ đưa ra một đoạn ống nhựa bên trong có chứa 12 viên ma túy, số còn lại H giấu trong người. Cả bốn người gồm: P1 , H , P2 và T đã vào nhà kho tại nhà của P1 sử dụng hết 03 viên. Trong khi ngồi chơi ở nhà P1 , P2 nhận được điện thoại của Nguyễn Hoài V, trú tại thôn HL, xã T2 , huyện T hỏi mua 03 viên ma túy loại hồng phiến, P2 đồng ý rồi hẹn V tới gần trước cổng nhà P1 để giao dịch. Tại đây, P2 bán cho V 03 viên ma túy với giá 300.000 đồng, sau khi bán ma tuý cho V xong thì P2 quay trở lại nhà của P1 . Một lúc sau P1 nhận điện thoại của Dương Tất P, hỏi mua 04 viên ma túy, P1 đồng ý và hẹn đến trước cổng nhà P1 để giao dịch. Khoảng 22 giờ cùng ngày khi P đến trước nhà của P1 gọi điện lại cho P1 thì P1 lấy 04 viên ma túy trong số ma túy mà H đưa tới ra bán cho P đồng thời nhận của P 400.000 đồng tiền mặt, khi vừa giao dịch xong thì bị lực lượng Công an truy đuổi bắt giữ.
Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Dương Tất P và Dương Tất C:
Vào tối ngày 14/6/2019, Dương Tất C sử dụng Facebook messenger của mình nhắn tin vào địa chỉ Facebook messenger của Dương Tất P và nói với P tìm xem có ai bán ma túy tổng hợp thì mua về cùng nhau sử dụng. P trả lời là "Cu Đ có" thì Cường đã dùng Facebook messenger gọi điện trực tiếp cho P và trao đổi với P cụ thể về việc cầm cố điện thoại của mình với giá 1.400.000 đồng rồi chia ra làm các phần gồm có: Đề nghị chủ cầm đồ chuyển khoản cho Cường 900.000 đồng, mua cho Cường 01 cục pin Nokia 50.000 đồng, cho P 50.000 đồng đổ xăng còn 400.000 đồng thì dùng mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Sau khi nghe Cường trao đổi thì P đồng ý và hẹn với Cường đến gặp nhau tại cây xăng N ở thôn PH, xã T1 , huyện T , Quảng Trị. Tại đây, C gọi điện cho một người quen là Trần Văn S (tức Đ1) ở thị trấn CV, huyện G, tỉnh Quảng Trị và trao đổi với Đ về việc cầm máy điện thoại lấy 1.400.000 đồng thì Đ đồng ý. Sau đó C đến chỗ hẹn thì thấy P đã đợi sẵn, C đưa cho P 01 điện thoại di dộng hiệu OPPO F1S rồi bảo P đưa máy qua cầm cố ở Trần Văn S. Sau khi cầm được điện thoại với gia 1.400.000 đồng thì P đổ 50.000 đồng tiền xăng, mua cho C 01 cục pin Nokia, còn 400.000 đồng P dùng để mua ma túy. P điện thoại cho P1 để hỏi mua 04 viên ma túy, P1 đồng ý và hẹn P đến trước cổng nhà P1 để giao dịch. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi P1 giao cho P 04 viên ma túy tổng hợp đựng trong 01 đoạn ống hút bằng nhựa rồi lấy 400.000 đồng tiền mặt thì P1 và P bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang. Khi bị bắt, vì quá lo sợ nên P đã nuốt đoạn ống hút có chứa 04 viên ma túy vào bụng, Cơ quan điều tra đưa P đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị để kiểm tra. Tại bệnh viện, bác sỹ đã tiến hành nội soi và lấy ra từ trong bụng của P đoạn ống hút bằng nhựa chứa ma túy nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 528/KLGĐ-PC09 ngày 19/6/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 30 viên nén màu hồng được niêm P2 trong P2 bì ký hiệu M1 gửi đến giám định có khối lượng 2,8051 gam; 01 viên nén màu hồng được niêm P2 trong P2 bì ký hiệu M2 gửi đến giám định có khối lượng 0,0950 gam; 01 viên nén màu xanh được niêm P2 trong P2 bì ký hiệu M3 gửi đến giám định có khối lượng 0,0940 gam; Chất bột màu đỏ thẫm được niêm P2 trong P2 bì ký hiệu M4 (thu giữ từ Dương Tất P) gửi đến giám định có khối lượng 0,2181 gam.
Tổng khối lượng Ma tuý thu giữ của các bị cáo khi bị bắt giữ là: 3,2122g. Trong đó Lê Văn H , Nguyễn Khắc P2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng ma túy đã bị thu giữ là: 3,2122g và phải chịu trách nhiệm về hai lần bán ma tuý cho người khác để kiếm lời. Nguyễn Đình P1 không biết H và P2 đã mua tổng cộng bao nhiều viên Ma túy, vì vậy P1 chỉ chịu trách nhiệm hình sự về việc bán 04 viên Ma túy cho Dương Tất P với khối lượng là: 0,2181g; Dương Tất P và Dương Tất C là những người đã có hành vi tàng trữ 04 viên Ma túy có khối lượng 0,2181g.
Tất cả đều là chất Ma túy loại Methamphetamine nằm trong danh mục II, số thứ tự là 323 theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2020/HS-ST ngày 04/3/2020 của Toà án nhân dân huyện T , tỉnh Quảng Trị đã quyết định: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dương Tất C12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn H , Nguyễn Đình P1 , Nguyễn Khắc P2 và Dương Tất P, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09 tháng 3 năm 2020, bị cáo Dương Tất C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do: Bản thân đã nhận thức được lỗi lầm của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình; hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ đang nuôi con nhỏ và bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Tất C phù hợp với các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của P1 luật.
. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Dương Tất C thừa nhận hành vi phạm tội của mình: Vào tối ngày 14/6/2019 bị cáo cùng Dương Tất P điện thoại cho P1 hỏi mua 04 viên ma túy để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi P1 giao cho P 04 viên ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang. Theo kết luận giám định 04 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2181g là ma túy loại Methamphetamine. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng P1 luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì để Hội đồng xét xử xem xét nên cần chấp nhận ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát, bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của P1 luật.
. Ra Quyết định bắt tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Tất C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Tất C: 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 29/5/2020).
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Dương Tất C phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực P1 luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực P1 luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Sở Tư P1 tỉnh Quảng Trị; - TAND huyện T ; (02 bản) - Công an huyện T ; - VKSND huyện T ; - Chi cục THADS huyện T ; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Anh Dũng |