vanban.org

Bản án 21/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 25/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Đánh bạc”; Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-PT
Ngày: 25 - 02 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đình Tiến

Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 110/2019/TLPT-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Trần Minh T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2019/HS-ST, ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã 3, tỉnh Hậu Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Minh T; sinh năm: 1986 tại Hậu Giang; nơi cư trú: Khu vực 5, phường Lái Hiếu, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng S và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Bùi Ánh N; có 01 người con, sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 18/9/2018 bị Công an thị xã 3 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” số tiền 1.500.000đ (nộp phạt ngày 19/9/2018); bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Bùi Thị Cẩm H và những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên tại phiên tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 20 phút ngày 05/7/2019 tại phần đất trống phía sau quán cà phê Nguyễn Q thuộc khu vực 6, phường 2, thị xã 3, tỉnh Hậu Giang, Công an phường 2 bắt quả tang các đối tượng Bùi Thị Cẩm H và Dương Thanh K, cùng 02 đối tượng chạy thoát đang thực hiện hành vi đánh bài cát tê ăn thua bằng tiền. Thu số tiền 2.830.000đ cùng nhiều tang vật khác.

Quá trình làm việc các đối tượng khai nhận như sau: Vào khoảng 14 giờ 50 phút ngày 05/7/2019, Trần Minh T đến quán cà phê Nguyễn Q thì T gặp Bùi Thị Cẩm H, Dương Thanh K và một người tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch) đang uống cà phê tại quán. Lúc này T1 rủ chơi bài cát tê, ăn thua bằng tiền, cả bốn người đồng ý rồi đi ra phần đất trống phía sau quán cà phê để đánh bạc, dùng bàn nhựa có sẵn của quán ngồi để tham gia đánh bạc, bài thì thấy có sẵn ở quán nên cả bốn người lấy chơi. Tham gia đánh bạc được khoảng 30 phút (đánh khoảng 15 ván) thì bị bắt quả tang, riêng Trần Minh T chạy thoát cùng với T1. Ngày 06/7/2019 Trần Minh T đến Công an phường 2 trình diện và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tổng số tiền chứng minh được Bùi Thị Cẩm H, Dương Thanh K và Trần Minh T dùng để đánh bạc là 780.000đ (bảy trăm tám chục ngàn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2019/HS-ST, ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã 3, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Bùi Thị Cẩm H; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, bị cáo Trần Minh T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được chuyển sang áp dụng các hình phạt khác không phải là hình phạt tù.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp xác nhận gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, có con còn nhỏ; đồng thời, bị cáo có cung cấp sổ tiết kiệm chứng minh có khả năng tài chính nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển sang áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo và phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm. Đối chiếu lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 05/7/2019, bị cáo T cùng một số đối tượng khác đã có hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 780.000đ. Với hành vi mà bị cáo đã thực hiện cùng với nhân thân đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”, cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đơn chiếc, bị cáo là lao động chính phải nuôi con còn nhỏ. Mặt khác, xét tính chất vụ án nhỏ lẻ, số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Mặc dù bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nhưng bị cáo tham gia đánh bạc với mục đích hưởng lợi, ăn thua bằng tiền nên cần thiết phạt bổ sung bị cáo số tiền nhất định để răn đe.

Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và có thu nhập không ổn định.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Minh T cho Ủy ban nhân dân phường 2, thị xã 3 (nay là thành phố 3), tỉnh Hậu Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ