vanban.org

Bản án 21/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Như N.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Như N được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Như N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2018, khi cháu K chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Như N ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Như N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24/9/2020
“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Nguyên và ông Trần Văn Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2020/TLST-HNGĐ ngày 13/7/2020 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/9/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Như N, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn N, xã NH, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn A, xã XA, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như N trình bày: Chị N và anh Nguyễn Ngọc Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã NH, huyện C, tỉnh Gia Lai, theo đăng ký kết hôn số 37 ngày 12/9/2018. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do không hiểu tính nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã và cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài cuộc sống chung với nhau. Do vậy, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ.

- Về con chung: Chị N và anh Đ có một con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2018. Chị N có nguyện vọng được nuôi cháu K và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản khai ngày 16/7/2020, bị đơn anh Nguyễn Ngọc Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị N có đăng ký kết hôn và xảy ra mâu thuẫn như chị N đã trình bày trong đơn khởi kiện. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị N.

- Về con chung: Anh Đ và chị N có một con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2018. Hiện nay cháu K đang ở với chị N và anh đồng ý giao cháu K cho chị N nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A phát biểu ý kiến: Xét thấy, tình cảm vợ chồng chị N và anh Đ không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh Đ. Về con chung: Xét thấy, chị N có đủ khả năng lao động để nuôi con, đồng thời con còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc của người mẹ nên cần giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2018 cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập. Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn A, xã XA, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Ngọc Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Như N và anh Nguyễn Ngọc Đ có đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị N và anh Đ đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đ. Thôn A và UBND xã XA đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của chị N và anh Đ, Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng anh Đ không đến và có lời khai đồng ý ly hôn với chị N. Tại phiên tòa, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Đ, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị N vẫn cương quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh Đ.

Về nuôi con chung: Chị N và anh Đ có một con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2018. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, vì lợi ích của con chung, hiện nay cháu K đang còn nhỏ, chưa được 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Đồng thời, chị N có khả năng lao động, có nơi cư trú ổn định nên đủ điều kiện để nuôi con và anh Đ cũng đồng ý giao cháu K cho chị N nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Minh K cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn anh Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Như N.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Như N được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Đ.

- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Như N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 10/7/2018, khi cháu K chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Chị Nguyễn Thị Như N không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Như N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng, theo biên lai thu tiền số 0004439 ngày 13/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai, chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Ngọc Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (24/9/2020), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ