- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị C xin ly hôn anh Hà Văn P"
- Tòa quyết gì? số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HNGĐ-ST Ngày: 07/7/2020 “V/v kiện xin ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Trần Xuân Văn
2. Ông: Hoàng Văn Tiến
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Hoàng Mai - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07/7/2020 tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2020/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2020 về việc kiện “xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/5/2020 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2020/QĐST- HNGĐ ngày 15/6/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C; sinh năm 1979.
Địa chỉ HKTT: Tổ 3, TDP 9, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Hà Văn P, sinh năm 1973.
Địa chỉ HKTT: Tổ Dân phố 1, phường P, TP. Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt lần 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 27/02/2020, được bổ sung tại bản tự khai ngày 23/3/2020 cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị C và anh Hà Văn P đăng ký kết hôn tại UBND phường P, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49 quyển số 01/ 2012 ngày 01/11/2012. Theo chị C trình bày anh chị kết hôn lần đầu vào năm 2008 đến năm 2009 anh chị ly hôn sau đó vì thương con nên năm 2012 anh chị kết hôn lại. Quá trình chung sống của vợ chồng ngay khi kết hôn về không có hạnh phúc trọn vẹn. Chị đã cố gắng và chịu đựng để níu kéo cuộc hôn nhân vì thương con và không muốn gia đình đổ vỡ. Nhưng vì áp lực từ anh P, anh thường xuyên say rượu về đánh đập chị, cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, anh P không quan tâm đến gia đình. Mặc dù trong gia đình chị đã làm tròn bổn phận một người vợ, người mẹ. Vì quá mệt mỏi và không thể chịu đựng được áp lực cũng như bất công đó nên chị đã cùng con gái rời xa anh và sống ly thân hơn 06 năm nay, chị một mình nuôi con và lo lắng cho con. Anh P chưa một lần trợ cấp tiền nuôi con vì chị biết anh không đủ khả năng nên chị cũng không đòi hỏi gì. Nay chị C nhận thấy cuộc sống gia đình của anh chị không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tình cảm vợ chồng xác định không còn, cuộc sống chung không có, nên nguyện vọng chị C xin được ly hôn với anh Hà Văn P.
- Về quan hệ con chung:
Vợ chồng có 01 con chung tên là Hà Đỗ Q, sinh ngày: 14/12/2008; hiện đang sống cùng chị C. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị C xin được tiếp tục nuôi cháu Q. Hiện nay chị làm nghề may cũng có thu nhập đủ cho cuộc sống của mẹ con chị, còn anh P hiện không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên chị không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Khi nào anh P có điều kiện thì chị sẽ yêu cầu sau. Cháu Hà Đỗ Q có đơn trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu ba mẹ cháu ly hôn.
- Về quan hệ tài sản chung:
Chị C khai vợ chồng không có tài sản chung và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho anh Hà Văn P kèm theo giấy triệu tập đến tòa án nhưng anh P không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Tòa án đã gửi giấy triệu tập hợp lệ cho anh P nhưng anh từ chối nhận giấy và cố tình không hợp tác, do đó Tòa án tiến hành niêm yết giấy triệu tập và Thông báo về phiên hòa giải theo quy định nhưng anh P vẫn không đến Tòa án.
Qua xác minh tại phường P thì hiện nay anh P vẫn đang sinh sống và có mặt tại địa phương là TDP1, phường P, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Việc Tòa án giải quyết đơn xin ly hôn theo yêu cầu của chị C nhưng anh P không hợp tác. Do đó bị đơn không đến tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập nên vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, HTND đã được thực hiện theo đúng quy định của BLTTDS. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Căn cứ vào quá trình giải quyết vụ án, tranh tụng tại phiên toà, đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật HN&GĐ; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Hà Văn P. Chị C được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên là Hà Đỗ Q, sinh ngày: 14/12/2008, anh P chưa phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị C có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết việc ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; là nơi bị đơn anh Hà Văn P có địa chỉ cư trú: Tổ Dân phố 1, phường P, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho anh P kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án nhưng anh P từ chối không nhận. Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo về phiên hòa giải và phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ tại nơi cư trú của bị đơn đồng thời tiến hành xác minh tại Tổ dân phố nơi anh P đang cư trú. Nhận thấy, việc hòa giải vụ án không thể tiến hành được. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Quyết định xét xử số 31/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới nhưng bị đơn anh P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất. Do đó, Hội đồng xét xử ra Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15/6/2020 và ấn định thời gian xét xử vào ngày 07/7/2020 theo đúng quy định tại Điều 227, 233 BLTTDS. Nhưng bị đơn anh P vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ; HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 BLTTDS, phiên tòa vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hà Văn P.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị C và anh Hà Văn P đã xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, nên đây là một cuộc hôn nhân hợp pháp, đáng lẽ ra anh, chị phải biết thương yêu, quý trọng chăm sóc lẫn nhau, nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc. Nhưng anh chị đã không làm được điều đó để giữ gìn hôn nhân bền vững mà lại để xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân hai bên thiếu thông cảm chia sẽ những khó khăn trong cuộc sống mà vợ chồng gặp phải, không biết cùng nhau gánh vác chuyện gia đình, không tìm được tiếng nói chung sau đó để mặc cuộc sống gia đình, sống ly thân, ai lo việc nấy không quan tâm gì đến nhau. Mặc dù vợ chồng đã ly hôn một lần nhưng vì thương con nên chị bỏ qua cho anh để về sống cùng nhau nuôi dạy con chung, nhưng về sống cùng nhau được một thời gian thì mâu thuẩn lại xẩy ra, chị cố gắng chịu đựng, sợ hôn nhân đổ vỡ một lần nữa, nhưng áp lực gia đình quá lớn, Anh chị đã ly thân hơn 06 năm nay, nên cũng không mong muốn hàn gắn cuộc hôn nhân cũng như tìm cách khắc phục mâu thuẩn. Chị C xác định vợ chồng tình cảm không còn nên chị làm đơn xin ly hôn. Về phía anh P biết rõ vụ kiện nhưng cũng không có ý gì muốn níu kéo hôn nhân mà thờ ơ để mặc và cũng không mong muốn được tòa án hòa giải. Điều đó thể hiện rằng mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể sống chung hạnh phúc nên cần thiết phải cho chị C được ly hôn anh P là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình.
[2.2] Về quan hệ con chung:
Xét điều kiện của anh chị hiện nay đã sống ly thân, cháu Hà Đỗ Q đang ở cùng chị C, cháu đã trên 7 tuổi có đơn xin trình bày nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Chị C cũng có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của chị C là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần được chấp nhận. Hiện tại anh P không có công việc và thu nhập ổn định, chị C có đủ khả năng nuôi con và không yêu cầu anh P đóng góp tiền nuôi con nên không buộc anh P cấp dưỡng, sau này anh P có điều kiện thì chị sẽ yêu cầu bằng vụ kiện khác.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Chị Chính khai không có tài sản chung và không có yêu cầu phân chia tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 235, 271, 273 khoản 2 Điều 227, 228
Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
về án phí lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Tuyên xử: Cho chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Hà Văn P.
2. Về con chung:
Xử: Giao cháu Hà Đỗ Q; sinh ngày: 14/12/2008 cho chị Nguyễn Thị C tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
Người không trực triếp nuôi con có quyền thăm con, không ai được ngăn cản người đó thực hiện quyền này.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Tuyên xử: Buộc chị Nguyễn Thị C phải chịu nộp 300.000đ án phí ly hôn. Số tiền chị C phải nộp được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo Biên lai số AA/2017/ 0006372 ngày 05 tháng 3 năm 2020.
Án xử công khai, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại chính quyền địa phương.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS Đồng Hới; - VKSND thành phố Đồng Hới - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Lệ |