vanban.org

Bản án 21/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Đào Thị Ngọc G đối với anh Lê Quang V. Xử cho chị Đào Thị Ngọc G được ly hôn với anh Lê Quang V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN n
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 27-5-2020
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Điệp

Bà Trần Thanh Phương

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến– Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 24/2020/TLST-HNGĐ ngày 04/02/2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 399/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị Ngọc G, sinh năm 1992

Địa chỉ: khu 5, ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Lê Quang V, sinh năm 1983

Hộ khẩu thường trú: Số 32 Đường 23, khu phố 4, phường B, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Chị G và anh V vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/02/2020 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Đào Thị Ngọc G trình bày: Chị và anh Lê Quang V xây dựng gia đình với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Hữu, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73 ngày 28 tháng 11 năm 2016. Việc kết hôn do chị và anh V đều tự nguyện. Nay chị G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Quang V. Nguyên nhân chị G yêu cầu ly hôn là do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng không còn tin tưởng và tôn trọng nhau, anh V không quan tâm chăm sóc gia đình.

Về con chung: Chị và anh V có 01 người con chung là cháu Lê Bảo H, sinh ngày 07/10/2017. Hiện do anh V đang nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị đồng ý giao con chung cho anh V nuôi dưỡng, tạm thời chị G không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị G khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị G khai không có.

Bị đơn anh Lê Quang V vắng mặt, không đến Tòa cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát nhân dân huyện N có Công văn số 15/YC-VKS-HNGĐ ngày 07/5/2020 về việc yêu cầu Tòa án xác minh hiện anh V có cư trú tại địa phương hay không nhưng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát rút lại yêu cầu trên nên Hội đồng xét xử không xét. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G, xử cho chị G được ly hôn với anh V. Về con chung: Đề nghị giao con chung cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng, tạm thời chị G không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Đào Thị Ngọc G vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Quang V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Đào Thị Ngọc G và anh Lê Quang V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Ngọc G và anh Lê Quang V xây dựng gia đình với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Hữu, huyện N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73 ngày 28/11/2016, việc kết hôn do cả hai đều tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Chị G xin ly hôn với anh V với lý do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường hay xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn thương yêu, tin tưởng và tôn trọng nhau, anh V không quan tâm, chăm sóc gia đình.

Xét thấy, qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Phú Đông thì địa phương không xác định được nguyên nhân tranh chấp ly hôn giữa chị G và anh V. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh V biết để đến Tòa tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ và hòa giải để vợ chồng anh đoàn tụ nhưng anh V vẫn không đến Tòa mà không có lý do nên Tòa án không thể hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ. Qua ý kiến của chị G thể hiện chị G và anh V không tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau là đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G, xử cho chị G được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Chị G và anh V có 01 người con chung là cháu Lê Bảo H, sinh ngày 06/11/2017. Hiện nay cháu Hân do anh V đang nuôi dưỡng, chị G đồng ý giao con chung cho anh V nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy hiện cháu Hân do anh V đang nuôi dưỡng nên cần đảm bảo ổn định cuộc sống và tâm lý của cháu Hân nên giao con chung là cháu Lê Bảo Hân cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Tạm thời chị G không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị G khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đào Thị Ngọc G phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 53, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của chị Đào Thị Ngọc G đối với anh Lê Quang V.

Xử cho chị Đào Thị Ngọc G được ly hôn với anh Lê Quang V.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lê Bảo H, sinh ngày 07/10/2017 cho anh Lê Quang V nuôi dưỡng. Tạm thời chị G không cấp dưỡng nuôi con.

Chị Đào Thị Ngọc G được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí: Chị Đào Thị Ngọc G phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009996 ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị G đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ