- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Sơn Bé T, yêu cầu ly hôn với Anh Đinh Hoàng B"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:21/2020/ HNGĐ-ST Ngày: 19-08-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nam
Các hội thẩm nhân dân:
1/- Ông Võ Tấn Phước
2/- Ông Nguyễn Văn Miên
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn- kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 08 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXX-ST ngày 29 tháng 06 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/ QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 07 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Sơn Bé T, sinh năm 1997 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp VT, xã VT1, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
2. Bị đơn: Anh Đinh Hoàng B, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp VT, xã VT1, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn - chị Sơn Bé T trình bày: Nguyên vào năm 2011, chị với anh Đinh Hoàng B xây dựng hôn nhân với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VT1, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống chị và anh B có 01 con chung tên: Đinh Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 08/9/2012. Hiện cháu Bảo đang sống cùng với chị T.
Về tài sản chung, nợ chung : không có.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị và anh B là do anh B thường xuyên đánh đập chị dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Chị đã nhiều lần cho anh B cơ hội nhưng anh B vẫn không sửa đổi. Hiện tại chị và anh B đã sống ly thân với nhau. Nay ra tòa, chị yêu cầu được ly hôn với anh Đinh Hoàng B, về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung : Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị T không còn ý kiến trình bày gì thêm.
Đối với anh Đinh Hoàng B không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời bản thân anh B cũng không có cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của chị Sơn Bé T theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng qui định của thủ tục tố tụng dân sự cho anh B nhưng anh B không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
* Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề xuất: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Sơn Bé T với anh Đinh Hoàng B
Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 08/9/2012 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu, anh B được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: không đặt ra xem xét.
Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình: chị Sơn Bé T phải chịu là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, chị Sơn Bé T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đinh Hoàng B vắng mặt, Toà án nhân dân huyện Hoà Bình đã tiến hành tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho anh B để tham gia phiên toà xét xử vụ án yêu cầu ly hôn, nuôi con giữa chị T và anh B theo quy định, nhưng anh B vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt đối với chị T, anh B.
Về hôn nhân: Chị Sơn Bé T và anh Đinh Hoàng Băc xây dựng hôn nhân với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VT1, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu và đã được Ủy ban nhân dân xã VT1 cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/7/2015. Vì thế, hôn nhân giữa chị T và anh B là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Chị T cho rằng trong quá trình chung sống với anh B do anh B thường xuyên đánh đập chị dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Chị đã nhiều lần cho anh B cơ hội nhưng anh B vẫn không sửa đổi. Hiện tại chị và anh B đã sống ly thân với nhau, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B.
Hội đồng xét xử xét thấy, Quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị T và anh B không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân. Từ khi sống ly thân đến nay, bản thân chị T và anh B cũng không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T vẫn cương quyết yêu cầu xin ly hôn với anh B. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Sơn Bé T đối với anh Đinh Hoàng B
Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị T và anh B có 01 người con chung tên: Đinh Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 08/9/2012. Chị T có nguyện vọng được nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện cháu Bảo đang sống ổn định cùng với chị T, cháu vẫn phát triển bình thường. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường và không làm xáo trộn môi trường sống của cháu ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của cháu Bảo, nên cần tiếp tục giao cháu Bảo cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung : Chị T xác định chị và anh B không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án đặt ra giải quyết .
Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Sơn Bé T với anh Đinh Hoàng B
2/- Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 08/9/2012 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu, anh B được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
3/- Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị Sơn Bé T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005967 ngày 12/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Sơn Bé T, anh Đinh Hoàng B vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình; - THADS huyện Hòa Bình; - UBND xã VT1; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | LÊ THỊ NAM |