vanban.org

Bản án 21/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc nuôi con: Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Lục Thị Th trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên là: Vũ Gia Kh, sinh ngày 24/10/2017; ghi nhận việc chị Lục Thị Th không yêu cầu anh Vũ Văn Ch cấp dưỡng nuôi con chung; anh Vũ Văn Ch…

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc Chị Lục Thị Th phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lục Thị Th-Vũ Văn Ch"
  • Tòa quyết gì? Về việc nuôi con: Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Lục Thị Th trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên là: Vũ Gia Kh, sinh ngày 24/10/2017; ghi nhận việc chị Lục Thị Th không yêu cầu anh Vũ Văn Ch cấp dưỡng nuôi con chung; anh Vũ Văn Ch…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 27 -3-2020
V/v: Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Xuân Trường.

Ông Ngụy Thanh Tuyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 237/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lục Thị Th; sinh năm 1999; địa chỉ: Xóm 1, xã B, huyện A, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

Bị đơn: Anh Vũ Văn Ch, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm 1, xã B, huyện A, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

Người làm chứng: Bà NLC; địa chỉ: Xóm 1, xã B, huyện A, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Lục Thị Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn Ch tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đã được UBND xã B, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/3/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến khoảng tháng 6 năm 2017 vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ. Mặc dù hai bên gia đình đã hòa giải nhưng vợ chồng không thể hàn gắn. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Ch, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên nguyện vọng của chị xin được ly hôn với anh Ch.

Về việc nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Gia Kh, sinh ngày 24/10/2017. Nguyện vọng của chị là tiếp tục được nuôi con và không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng.

Về tài sản: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Vũ Văn Ch: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Ch nhưng anh Ch không trực tiếp trình bày quan điểm và không chấp hành việc triệu tập của Tòa án.

Người làm chứng bà Hoàng Thị Phin trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Ch. Chị Th và anh Ch kết hôn năm 2017, sau ngày cưới khoảng 4 tháng thì chị Th bỏ về nhà mẹ đẻ. Anh Ch con bà nhất trí ly hôn nhưng do công việc không đến Tòa án làm việc được.

Kết quả xác minh tại xã B thấy: Các đương sự trình bày là đúng.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nguyên đơn có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử cho ly hôn giữa Chị Lục Thị Th và anh Vũ Văn Ch; giao cháu Vũ Gia Kh, sinh ngày 24/10/2017 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị Th không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn Chị Lục Thị Th có đơn đề nghị xử vắng mặt, anh Vũ Văn Ch được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên có căn cứ và đủ điều kiện xét xử vắng mặt cả hai đương sự như quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lục Thị Th và anh Vũ Văn Ch kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng giữa chị Th và anh Ch không có hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân. Chị Thùy xin ly hôn, anh Ch nhất trí ly hôn nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh Ch đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Lục Thị Th xin ly hôn anh Vũ Văn Ch.

Về việc nuôi con: Vợ chồng có 1 con chung là Vũ Gia Kh, sinh ngày 24/10/2017. Căn cứ vào kết quả xác minh, nguyện vọng, điều kiện nuôi con của các đương sự và thực tế cháu Kh chưa đủ 3 tuổi; đủ cơ sở giao con chung cho chị Lục Thị Th tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Vũ Văn Ch có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Ghi nhận việc chị Th không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét điều chỉnh.

Về án phí: Chị Lục Thị Th là nguyên đơn, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự thì chị Th phải nộp toàn bộ án phí ly hôn.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử cho ly hôn giữa Chị Lục Thị Th và anh Vũ Văn Ch.

2. Về việc nuôi con: Căn cứ vào các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Lục Thị Th trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên là: Vũ Gia Kh, sinh ngày 24/10/2017; ghi nhận việc chị Lục Thị Th không yêu cầu anh Vũ Văn Ch cấp dưỡng nuôi con chung; anh Vũ Văn Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc Chị Lục Thị Th phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000546 ngày 24/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy; chị Lục Thị Th đã nộp đủ án phí ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ