vanban.org

Bản án 21/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 30/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Thào A X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Thào A X 12 (Mười hai) tháng tù, kể từ ngày bắt: 19/12/2018. [3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc xe má… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A X - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Thào A X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Tuấn và ông Thùng Văn Liên.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2019/TLST-HS ngày 16/4/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2019/QĐXXST-HS ngày 17/5/2019 đối với bị cáo:

Thào A X; Sinh năm 1974 tại huyện C –Lào Cai; Nơi cư trú: Bản K 1, xã NK, huyện MN, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thào A N (đã chết) và con bà: Giàng Thị H sinh năm: 1948; Bị cáo có vợ là Sùng Thị Ssinh năm 1984 và có 06 người con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2018 cho tới nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa: Ông Phùng Việt H – Là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên được trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên cử bào chữa cho bị cáo Thào A X.

Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 17/12/2018, Thào A X đi xe máy biển kiểm soát 27B1-671.42 từ nhà ở bản K 1 xã NK, huyện MN, tỉnh Điện Biên lên bản NB 1 xã NB, huyện NP để thăm mẹ đẻ đang ở cùng với anh trai là Thào A S. Khoảng 12 giờ cùng ngày 17/12/2018 X đến khu vực bản NB 1 xã NB thì X gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi, X không biết tên tuổi, địa chỉ. X dừng xe hỏi người đó là có thuốc phiện bán không, người đàn ông đó trả lời là có. X nói với người đàn ông đó bán cho X một ít. Người đàn ông đó lấy từ túi áo ngực ra 01 gói bằng ni lông màu trắng bên trong có chứa thuốc phiện và nói bán giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). X đồng ý mua gói thuốc phiện, X lấy tiền ra cho người đó 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Người đàn ông đó cầm lấy tiền rồi đưa gói thuốc phiện cho X. X cầm lấy gói thuốc phiện rồi cho vào túi áo ngực đang mặc, X tiếp tục đi xe máy về nhà mẹ đẻ. Khoảng 20 giờ ngày 18/12/2018 X lấy gói thuốc phiện ra dùng que tăm khều lấy một ít rồi dùng bật lửa đốt cho vào miệng ngậm. Đến sáng ngày 19/12/2018 X từ bản NB 1 xã NB đi về nhà thì anh trai X là Thào A S xin đi nhờ ra trung tâm xã Nà Hỳ, huyện NP để bắt xe khách ra huyện MC đón con, X đồng ý cho S đi cùng. Khi Sinh và S đi đến khu vực bản Sín Chải 2, xã Nà Hỳ thì gặp tổ công tác Công an huyện NP yêu cầu X dừng xe kiểm tra hành chính, sợ bị phát hiện X lấy gói thuốc phiện trong túi áo ngực ra định ném đi thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang và biên bản thu giữ vật chứng vụ án gồm 01 gói ma túy được gói bằng ni lông màu trắng và 01 chiếc xe máy của bị cáo X.

Ngày 19/12/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng và lấy toàn bộ 2,16 gam làm mẫu giám định số ma túy thu giữ của Thào A X.

Bản kết luận giám định số: 174/GĐ-PC09, ngày 03/01/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen gửi trích ra từ vật chứng thu giữ của Thào A X gửi giám định là chất ma túy. Loại thuốc phiện. Khối lượng vật chứng thu giữ của Thào A X là 2,16 gam.

Bản cáo trạng số: 19/CT-VKSNP ngày 15/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Thào A X về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/ BLHS.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Thào A X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Thào A X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51và điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thào A X mức án từ 15 đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 27B1- 671.42. Miễn án phí án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo Thào A X thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Phùng Việt H là người bào chữa cho bị cáo Thào A X cho rằng về tội danh ông không có ý kiến gì. Bị cáo Thào A X thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thào A X mức án thấp nhất của khung hình phạt. Đồng thời xem xét hoàn cảnh gia đình miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Thào A X không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 05 giờ 45 phút, ngày 19/12/2018, Thào A X đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,16 gam thuốc phiện với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Sín Chải 2, xã Nà Hỳ, huyện NP, tỉnh Điện Biên.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy HĐXX kết luận bị cáo Thào A X đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc ̣ trường hợp nghiêm trọng, gây nguy

̣ hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Thào A X là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo Thào A X nhằm răn đe giáo duc ̣ và răn đe phòng ngừa chung trong nhân dân.

Xét đề nghị của vị luật sư đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xử phạt cho bị cáo Thào A X mức thấp nhất của khung hình phạt; Cần được xem xét để áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Thào A X từ nhỏ không được đi học, do không chịu rèn luyện bản thân và nhận thức pháp luật hạn chế nên bị cáo đã nghiện chất ma túy và có hành vi phạm tội trong vụ án này. HĐXX xét thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thào A X thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Không.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS, xét thấy bị cáo Thào A X là người nghiện ma túy và có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Thào A X khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên tuổi và địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không có cơ sở để xác minh và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.

Về vật chứng của vụ án: Gồm 2,16 gam thuốc phiện, tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã mang toàn bộ đi giám định nên không cần đề cập xử lý.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 27B1- 671.42 do Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ trong vụ án, qua điều tra xác minh đã làm rõ bị cáo đã dùng chiếc xe máy làm phương tiện phạm tội. Vì vậy cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS tuyên sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy cũ nhãn hiệu Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 27B1-671.42 của bị cáo Thào A X.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Xét thấy gia đình bị cáo Thào A X là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Thào A X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

[2] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Thào A X 12 (Mười hai) tháng tù, kể từ ngày bắt: 19/12/2018.

[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy cũ nhãn hiệu Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 27B1-671.42 số khung RLHJA 3907HY 136872, số máy JA39E0136915 theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/4 /2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo Thào A X được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ