- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thị M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2019/HS-ST Ngày 12/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Thào A Tủa
2. Bà Pờ Xì Mé
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Thào A Di - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2019/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 7 năm 2019 đối với.
Bị cáo Chu Thị M; sinh ngày 05 tháng 5 năm 1989; tại Thôn Đức Cường, xã Nam Cường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn Ngải Châu, xã Đồng Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Bản Nậm Mỳ 1, xã Huổi Lếch, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Tự do ( buôn bán); trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn L và con bà Đinh Thị Đ; bị cáo có chồng là Ngô Văn X sinh năm 1986, bị cáo có 03 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 07/5/2019 đến ngày 10/5/2019 được tại ngoại do còn đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04 tháng 5 năm 2019, bị cáo Chu Thị Minh đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Mông tên Sinh đến chơi, bị cáo Chu Thị M không biết họ tên đầy đủ, chỉ biết là người cùng bản. Bị cáo Chu Thị M có hỏi Sinh là có biết ai bán thuốc phiện không muốn mua một ít để bán kiếm lời và để đổi củi đun, Sinh hỏi muốn mua bao nhiêu ? bị cáo Chu Thị M bảo muốn mua với số tiền là 3.000.000 đồng và đưa tiền cho Sinh, sau đó Sinh cầm tiền đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ 00 ngày 05 tháng 5 năm 2019 thì Sinh cầm đến cho bị cáo Chu Thị M 03 (ba) gói nhỏ thuốc phiện, bị cáo Chu Thị M mang đi cất dấu. Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 07 tháng 5 năm 2019 bị cáo Chu Thị M đang bán thuốc phiện cho một người đàn ông dân tộc Mông không biết họ tên, địa chỉ ở đâu thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện bắt quả tang thu giữ 03 (ba) gói nhỏ thuốc phiện và 700.000 đồng, còn người đàn ông đó bỏ chạy không bắt được. Bị cáo Chu Thị M bị bắt và thu giữ cùng toàn bộ vật chứng được đưa về Công an huyện Mường Nhé để làm rõ.
Ngày 08 tháng 5 năm 2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng thuốc phiện thu giữ của Chu Thị M là 86,18 gam. Tại bản kết luận giám định số: 507/GĐ-PC09 ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen khối lượng 12,8 gam gửi giám định của Chu Thị M là Thuốc phiện không hoàn lại. Tổng khối lượng vật chứng thu được của Chu Thị M là 86,18 gam là thuốc phiện.
Bản cáo trạng số: 21/CT-VKS - MN ngày 30 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Chu Thị M để xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Chu Thị M từ: 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106; 136 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án; tiền nộp sung ngân sách Nhà nước. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Chu Thị M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Thị M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 10 giờ 15 ngày 07 tháng 5 năm 2019 tổ công tác Công an huyện Mường Nhé làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nậm Mỳ 1, xã Huổi Lếch, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang Chu Thị M đang bán thuốc phiện cho một người đàn ông thì bị thu giữ toàn bộ vật chứng là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi mua bán khối lượng 86,18 gam thuốc phiện nhằm mục đích để bán lẻ kiếm tiền bất chính của Chu Thị M đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn bán lẻ thuốc phiện kiếm tiền bất chính, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Chu Thị M sinh ra và lớn lên ở thôn Đức Cường, xã Nam Cường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên học hết lớp 9/12 ở nhà phụ giúp gia đình, sau đó xây dựng gia đình. Năm 2012 gia đình bị cáo Chu Thị M chuyển lên bản Nậm Mỳ 1, xã Huổi Lếch, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên làm ăn sinh sống. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Chu Thị M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Chu Thị M từ: 24 đến 30 tháng tù. Xét thấy đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần xem xét, xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 251 BLHS đối với bị cáo.
Đối với đối tượng người dân tộc Mông tên Sinh bán thuốc phiện cho bị cáo Chu Thị Minh và người đàn ông dân tộc Mông đến mua thuốc phiện, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi địa chỉ ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với khối lượng 73,38 gam thuốc phiện còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền là 700.000 đồng là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu nộp sung ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Xét thấy bị cáo Chu Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, thành viên hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại hoặc ý kiến gì.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Chu Thị M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Chu Thị M: 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 03 ( ba) ngày. Bị cáo Chu Thị Minh còn phải chấp hành án là: 23 tháng 27 ngày. Thời gian tù tính từ ngày bắt chấp hành án tại trại.
2.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b; c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a; b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu huỷ khối lượng 73,38 gam thuốc phiện là vật chứng vụ án Chu Thị M. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 7 năm 2019 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
- Tịch thu số tiền là 700.000 đồng ( Bảy trăm nghìn đồng) là tiền do phạm tội mà có cần nộp sung ngân sách Nhà nước. Hiện đang tạm gửi tại tài khoản của Công an huyện Mường Nhé. Số tài khoản là: 3949.0.9057286 tại Kho bạc Nhà nước huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chu Thị M phải chịu số tiền là 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị cáo Chu Thị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. Các thành viên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |