vanban.org

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Y.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y được ly hôn với anh Lâm Kim Ngô H. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc Y được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Lâm Kim Q, sinh ngày 20/12/2008 và Lâm Hải Đ, sinh ngày 07/01/2017, khi cháu Q và cháu Đ chưa thành niên hoặc đã t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Ngọc Y ly hôn với anh Lâm Kim Ngô H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Y.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HNGĐ-ST
Ngày 17/9/2019
“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN KHÊ - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kia và bà Bế Thị Bay.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.

Ngày 17/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 85/2019/TLST-HNGĐ ngày 28/5/2019 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2019/QĐST-DS ngày 28/8/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ B, phường AP, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lâm Kim Ngô H, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ M3, phường AP, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Y trình bày: Chị Y và anh Lâm Kim Ngô H qua thời gian tìm hiểu, yêu thương đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường AP, thị xã A, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01/2009 vào ngày 12/3/2009. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống và anh H không chung thủy. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, cuộc sống không còn hạnh phúc, không thể kéo dài cuộc sống hôn nhân. Do vậy, chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh Lâm Kim Ngô H.

- Về con chung: Chị Y và anh H có hai con chung là Lâm Kim Q, sinh ngày 20/12/2008 và Lâm Hải Đ, sinh ngày 07/01/2017. Chị Y có nguyện vọng được nuôi dưỡng các con chung và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi các con với mức 7.000.000đ/tháng/2cháu cho đến các con trưởng thành.

- Về tài sản và nợ chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lâm Kim Ngô H mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án triệu tập đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đã không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Y yêu cầu ly hôn với anh Lâm Kim Ngô H, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ M3, phường AP, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai. Bị đơn anh Lâm Kim Ngô H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Lâm Kim Ngô H.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y và anh Lâm Kim Ngô H có đủ điều kiện kết hôn, đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị Y và anh H đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị Y có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H. Tổ dân phố M3 và UBND phường AP đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của chị Y và anh H, Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng anh H không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Y và anh H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Y đối với anh Lâm Kim Ngô H.

Về nuôi con chung: Chị Y và anh H có hai con chung là Lâm Kim Q, sinh ngày 20/12/2008 và Lâm Hải Đ, sinh ngày 07/01/2017. Chị Y có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng các con. Hội đồng xét xử xét thấy, vì lợi ích của các con chung, hiện nay cháu Q và cháu Đ đang được chị Yến trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Đ hiện đang còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ và cháu Q cũng có nguyện vọng được chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao các cháu Lâm Kim Q và Lâm Hải Đ cho chị Nguyễn Thị Ngọc Y được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, do vậy chị Y yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Tại phiên tòa, chị Y yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000đ/cháu, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Yến là phù hợp nên cần chấp nhận. Về phương thức cấp dưỡng, do các bên không tự thỏa thuận được nên cần buộc anh H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ hàng tháng. Về thời gian cấp dưỡng, chị Y yêu cầu cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 10/2019 cho đến khi cháu Q, cháu Đ đủ 18 tuổi và tự lập được. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về tài sản và nợ chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, bị đơn anh Lâm Kim Ngô H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Y.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y được ly hôn với anh Lâm Kim Ngô H.

- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc Y được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Lâm Kim Q, sinh ngày 20/12/2008 và Lâm Hải Đ, sinh ngày 07/01/2017, khi cháu Q và cháu Đ chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh Lâm Kim Ngô H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cho cháu Q và cháu Đ với số tiền 1.500.000đ/tháng/cháu (Một triệu năm trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 10/2019 cho đến khi cháu Q và cháu Đ đủ 18 tuổi và tự lập được.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0007321 ngày 28/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai, chị Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Lâm Kim Ngô H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (17/9/2019), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ