vanban.org

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Neàng Sa R. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Neàng Sa R và ông Chau Ry N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Sa R yêu cầu ly hôn với ông Ry N; yêu cầu được quyền nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không có."
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2019
V/v Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Neáng Srây Mum;

Bà Huỳnh Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Neàng Sa R, sinh năm 1985, cư trú: t5, ấp T, xã T,

huyện T, tỉnh A, có mặt;

- Bị đơn: Ông Chau Ry N, sinh năm 1985, cư trú: ấp A, xã A, huyện T,

tỉnh A, vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Lục Tà Dung – Cán bộ Đài truyền thanh huyện

Tịnh Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ghi ngày 17 tháng 4 năm 2019 và các lời khai trong

quá trình giải quyết tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Neàng Sa R trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Ry N chung sống với nhau và có đăng ký kết

hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 13/TP/HT, Quyển số 01/2007, ngày 12 tháng 02 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T. Trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, do ông N hay nhậu nhẹt không lo cho vợ con, mỗi lần say về thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông N không tôn trọng mẹ ruột của bà, nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2009, không còn liên lạc với nhau. Do đó, bà Sa R yêu cầu ly hôn với ông Ry N.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Chau Pha N1, sinh ngày 29 tháng 3 năm 2007. Hiện tại con chung do mẹ chồng nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Ry N cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Chau Ry N đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

- Ý kiến trình bày của cháu Chau Pha N1: Nếu cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ Neàng Sa R.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân giữa bà Sa R và ông Ry N có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy giữa bà Sa R và ông Ry N có mâu thuẫn với nhau, đã sống ly thân một thời gian dài, ông Ry N cũng đã có vợ khác. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Có một con chung là cháu Chau Pha N1, sinh ngày 29 tháng 3 năm 2007. Cháu Chau Pha N1 có nguyện vọng được sống với mẹ. Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và phù hợp với nguyện vọng của cháu Nít, cần giao con chung cho bà Sa R nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Về cấp dưỡng bà Sa R không yêu cầu, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Ry N vắng mặt. Nguyên đơn bà Neàng Sa R vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả

tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Bị đơn ông Chau Ry N đã được Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên triệu

tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Chau Ry N có đăng ký hộ khẩu

thường trú tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Bà Sa R và ông Ry N chung sống với nhau có đăng ký kết

hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 13/TP/HT, Quyển số 01/2007, ngày 12 tháng 02 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T theo đúng quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo pháp luật. Xét thấy về tình cảm bà Sa R và ông Ry N không còn hạnh phúc, từ năm 2009 cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, chung sống với nhau, theo kết quả xác minh ngày 21 tháng 5 năm 2019 tại ấp A, xã A và bà Neàng Ch (mẹ ruột ông Chau Ry N) xác định “...bà Sa R và ông Ry N đã không còn sống chung cách đây 10 năm, hiện nay ông Ry N đã có vợ khác và bà Sa R cũng có chồng khác”. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà Sa R và ông Ry N không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử thấy rằng bà Neàng Sa R xin ly hôn là có căn cứ.

Về con chung: Có một con chung là cháu Chau Pha N1, sinh ngày 29

tháng 3 năm 2007. Từ sau khi bà Sa R và ông Ry N không còn chung sống với nhau, con chung do bà Neàng Ch (mẹ ruột ông Chau Ry N) nuôi dưỡng. Tuy nhiên, về quyền nuôi dưỡng con chung phải giao trực tiếp cho cha và mẹ nuôi dưỡng, đồng thời cháu Chau Pha N1 cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và phù hợp với nguyện vọng của cháu Nít, cần giao con chung cho bà Sa R nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng bà Sa R không yêu cầu, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Do đó, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị là có cơ

sở.

Về án phí: Bà Neàng Sa R khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông Chau Ry N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Neàng Sa R.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Neàng Sa R và ông Chau Ry N.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Chau Pha N1, sinh ngày 29 tháng 3 năm 2007 cho bà Neàng Sa R trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Ông Chau Ry N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Neàng Sa R cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Chau Ry N quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Neàng Sa R phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0014700 ngày 02 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên. Bà Sa R đã nộp xong.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 13/TP/HT, Quyển số 01/2007, ngày 12 tháng

02 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh A không còn giá trị pháp lý.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.

Cỡ chữ