vanban.org

Bản án 21/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” của nguyên đơn Ngân hàng Agribank Chi nhánh L đối với bị đơn bà H và ông T.

Buộc bị đơn bà H và ông T phải trả cho Agribank Chi nhánh L số tiền nợ gốc là 450.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 và lãi phát sinh tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/9/2019 là 51.223.562 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 501.223.562 đồng, và số tiền nợ gốc 450.000.000 đồng theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” của nguyên đơn Ngân hàng Agribank Chi nhánh L đối với bị đơn bà H và ông T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự giải; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 21/2019/DS-ST
Ngày 04-9-2019
V/v:“Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Văn Biên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Đức Minh

Bà Lê Thị Sáu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Thành - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà-Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 16/2019/TLST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2019, Quyết định hoãn phiên toà số 27/2019/QĐST-DS ngày 07/8/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp.

Địa chỉ: Thôn 3, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện theo uỷ quyền thường xuyên: Ông B, chức vụ giám đốc Agribank chi nhánh L.

Đại diện theo ủy quyền: Ông P, chức vụ phó giám đốc Agribank chi nhánh L.

“Văn bản ủy quyền ngày 23/01/2019”. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà H, sinh năm 1977 và ông T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2019 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp-Chi nhánh L trình bày:

Ngày 01/8/2017, Ngân hàng nông nghiệp-Chi nhánh L (Sau đây gọi Agribank Chi nhánh L) ký hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701831 cho bà H và ông T vay số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%/năm lãi suất trong hạn, thời hạn vay là 12 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày: 01/8/2018, mục đích vay vốn để chăn nuôi ong mật. Cùng ngày 01/8/2017, Agribank Chi nhánh L ký hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 cho bà H và ông T vay số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng), đã giải ngân 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất cho vay trong thời hạn ân hạn năm 2017 là 6,5%/năm, các năm tiếp theo sẽ được áp dụng lãi suất do ngân hàng cấp trên công bố theo từng thời kỳ. Thời hạn ân nợ 03 năm tính từ thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, lãi suất quá hạn 150%/năm so với lãi suất trong hạn tương ứng, thời hạn vay là 84 tháng, phân kỳ trả nợ: ngày 01/8/2020 trả 40.000.000 đồng, ngày 01/8/2021 trả 80.000.000 đồng, ngày 01/8/2022 trả 100.000.000 đồng, ngày 01/8/2023 trả 110.000.000 đồng và thời hạn trả cuối cùng là ngày 01/8/2024 trả 120.000.000 đồng, mục đích vay vốn để thực hiện dự án VNSat (Tái canh cà phê bền vững).

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu BA 856230 do UBND huyện B cấp ngày 05/02/2010, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu BR 010427 do UBND huyện B cấp ngày 25/03/2014 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu L 176729 do UBND huyện B cấp ngày 16/04/1998 có tổng diện tích là 22.417,2 m2, trong đó 100m2 đất ở và căn nhà cấp 4A diện tích xây dựng 100m2 theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015, ngày 25/07/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp về việc điều chỉnh hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015 ngày 25/7/2016 số 01/PLHĐTC/2017 ngày 01/8/2017 giữa bên thế chấp là bà H và bên nhận thế chấp là Agribank Chi nhánh L, Lâm Đồng II.

Đến hạn Agribank Chi nhánh L đã nhiều lần làm việc trực tiếp yêu cầu bà H và ông T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng bà H và ông T vẫn không trả nợ gốc, nợ lãi là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết tại hợp đồng tín dụng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Agribank Chi nhánh L, gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ.

Nay Agribank Chi nhánh L yêu cầu Tòa án buộc bà H và ông T phải trả nợ cho Agribank Chi nhánh L toàn bộ số tiền gốc của 02 hợp đồng tín dụng nêu trên là 900.000.000 đồng. Và yêu cầu trả nợ lãi: đối với hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 từ ngày 01/01/2018 đến 02/7/2019 là: 548 ngày x 450.000.000 đồng x 6,8%/năm = 45.941.918 đồng; đối với hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701831, lãi trong hạn từ ngày 01/01/2018 đến 31/10/2018 là: 304 ngày x 450.000.000 đồng x 10%/năm = 37.479.452 đồng; từ ngày 01/11/2018 đến ngày 02/7/2019 là: 244 ngày x 450.000.000 đồng x 10,2%/năm = 30.683.836 đồng, lãi quá hạn ngày 02/8/2018 đến 31/10/2018 là 91 ngày x 450 triệu x 5%/năm = 5.609.589 đồng, lãi quá hạn ngày 01/11/2018 đến 02/7/2019 là: 245 ngày x 450.000.000 đồng x 5,1%/năm = 15.404.795 đồng.

Bị đơn vợ chồng bà H và ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đều hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không được vì lý do vợ chồng bà H và ông T vắng mặt.

Sau đó, Agribank Chi nhánh L làm đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nữa.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu nêu trên và yêu cầu tính lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Agribank Chi nhánh L. Buộc vợ chồng bà H và ông T phải trả cho Agribank Chi nhánh L tổng số tiền nợ gốc là 900.000.000 đồng và lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Về án phí buộc vợ chồng bà H và ông T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: vợ chồng bà H và ông T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Nguyên đơn Agribank Chi nhánh L khởi kiện yêu cầu buộc vợ chồng bà H và ông T phải trả tổng số tiền gốc của hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 và hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701831 là 900.000.000 đồng và lãi phát sinh nên phát sinh tranh chấp. Do vậy, xác định quan hệ “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Ngày 01/8/2017, ông T đã làm giấy uỷ quyền cho bà H để thực hiện các giao dịch có liên quan đến việc vay vốn tại Agribank Chi nhánh L được văn phòng công chứng Qcông chứng theo đúng quy định của pháp luật. Xét hợp đồng tín dụng số hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 và 5492-LAV201701831 ngày 01/8/2017 được ký kết giữa Ngân hàng Agribank Chi nhánh L với bà H thì các bên đều có đủ năng lực hành vi dân sự nên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản, các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối ép buộc nên nội dung hợp đồng là hợp pháp.

Về tính hợp pháp của Hợp đồng thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015, ngày 25/07/2016 được công chứng tại Văn phòng công chứng Q công chứng, số công chứng: 4244, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/7/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp về việc điều chỉnh hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015 ngày 25/7/2016 số 01/PLHĐTC/2017 ngày 01/8/2017 được công chứng tại Văn phòng công chứng Q, số công chứng: 12051, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/8/2017. Chủ thể tham gia ký kết Hợp đồng thế chấp là hợp pháp và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật, các bên trong hợp đồng thế chấp đã tự nguyện giao kết, nội dung hợp đồng thế chấp thể hiện tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, thỏa thuận của các bên không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Như vậy, hợp đồng thế chấp là hợp pháp.

Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự thể hiện: Ngày 01/8/2017, Agribank Chi nhánh L ký hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701831 cho bà H và ông T vay số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150%/năm lãi suất trong hạn, thời hạn vay là 12 tháng, trả lãi vào ngày 30 hàng tháng, hạn trả cuối cùng là ngày: 01/8/2018, mục đích vay vốn để chăn nuôi ong mật. Cùng ngày 01/8/2017, Agribank Chi nhánh L ký hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 cho bà H và ông T vay số tiền 600.000.000 đồng nhưng đã giải ngân 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất cho vay trong thời hạn ân hạn năm 2017 là 6,5%/năm, các năm tiếp theo sẽ được áp dụng lãi suất do ngân hàng cấp trên công bố theo từng thời kỳ. Thời hạn ân nợ 03 năm tính từ thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, lãi suất quá hạn 150%/năm so với lãi suất trong hạn tương ứng, thời hạn vay là 84 tháng, trả lãi vào ngày 30 hàng tháng, phân kỳ trả nợ: ngày 01/8/2020 trả 40.000.000 đồng, ngày 01/8/2021 trả 80.000.000 đồng, ngày 01/8/2022 trả 100.000.000 đồng, ngày 01/8/2023 trả 110.000.000 đồng và thời hạn trả cuối cùng là ngày 01/8/2024 trả 120.000.000 đồng, mục đích vay vốn để thực hiện dự án VNSat (Tái canh cà phê bền vững).

Đối chiếu giấy nhận nợ ngày 01/8/2017, tờ theo dõi phát tiền vay và thời hạn trả nợ và trình bày của Agribank Chi nhánh L thì từ khi vay đến nay phía bà H, ông T đã thanh toán tiền lãi đến ngày 31/12/2017, từ ngày 01/01/2018 chưa thanh toán lãi phát sinh hàng tháng đối với hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 và chưa thanh toán lãi hàng tháng, tiền nợ gốc khi đến hạn đối với hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701831 và là có thật, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Agribank Chi nhánh L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà H, ông T nhưng đều vắng mặt. Điều đó cho thấy bà H, ông T không chấp hành pháp luật nên phía Ngân hàng cho rằng trong quá trình thực hiện hợp đồng đã nhiều lần đôn đốc việc trả nợ nhưng bà H, ông T không trả là có cơ sở.

Đây là hợp đồng dân sự, là sự tự nguyện của các bên, nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà H, ông T không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết cho Ngân hàng Agribank Chi nhánh L là vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định bà H, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng, là người có lỗi trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và đúng pháp luật, buộc bị đơn bà H và ông T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Agribank Chi nhánh L số tiền nợ gốc là 450.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 và lãi phát sinh tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/9/2019, lãi trong hạn: 611 ngày x 450.000.000 đồng x 6,8%/365 = 51.223.562 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 501.223.562 đồng, và phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc 450.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701831 và lãi phát sinh tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/9/2019, cụ thể là: Lãi trong hạn tính từ ngày 01/8/2018 đến ngày 31/7/2018 là: 212 ngày x 450.000.000 đồng x 10%/365 = 26.136.986 đồng; lãi quá hạn từ ngày 01/8/2018 đến 31/10/2018 là: 92 ngày x 450.000.000 đồng x 15%/365 = 17.013.699 đồng, lãi quá hạn từ ngày 01/11/2018 đến 04/9/2019 là: 307 ngày x 450.000.000 đồng x 15,3%/365 = 57.909.452 đồng, cộng lãi là 101.060.137 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 551.060.137 đồng.

Về tài sản thế chấp:

Căn cứ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015, ngày 25/07/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp về việc điều chỉnh hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015 ngày 25/7/2016 số 01/PLHĐTC/2017 ngày 01/8/2017 thì bà H, ông T đã dùng tài sản của mình để bảo đảm cho Ngân hàng Agribank Chi nhánh L để vay số tiền 900.000.000 đồng. Theo nội dung của hợp đồng thế chấp, trường hợp bà H và ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi thì dùng toàn bộ tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu BA 856230 do UBND huyện B cấp ngày 05/02/2010, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu BR 010427 do UBND huyện B cấp ngày 25/03/2014 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu L 176729 do UBND huyện B cấp ngày 16/04/1998 có tổng diện tích là 22.417,2 m2, trong đó 100m2 đất ở và căn nhà cấp 4A diện tích xây dựng 100m2 sẽ được phát mãi theo quy định của pháp luật để trả nợ cho ngân hàng.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn bà H và ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39; khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322, Điều 463; Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” của nguyên đơn Ngân hàng Agribank Chi nhánh L đối với bị đơn bà H và ông T.

Buộc bị đơn bà H và ông T phải trả cho Agribank Chi nhánh L số tiền nợ gốc là 450.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 và lãi phát sinh tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/9/2019 là 51.223.562 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 501.223.562 đồng, và số tiền nợ gốc 450.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701831 và lãi phát sinh tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 04/9/2019 là 101.060.137 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 551.060.137 đồng. Tổng cộng gốc và lãi của 02 hợp đồng là 1.052.283.699 đồng (Một tỷ không trăm năm mươi hai triệu hai trăm tám mươi ba ngàn sáu trăm chín mươi chín đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà H và ông T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 5492-LAV201701830 và hợp đồng 5492-LAV201701831 ngày 01/8/2017 cho đến khi bà H và ông T thanh toán xong các nghĩa vụ cho Agribank Chi nhánh L.

Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015, ngày 25/7/2016 và phụ lục hợp đồng thế chấp về việc điều chỉnh hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57-2015 ngày 25/7/2016 số 01/PLHĐTC/2017 ngày 01/8/2017.

Sau khi bà H và ông T hoàn thành việc trả nợ, thì Agribank Chi nhánh L phải trả lại cho bà H và ông T các giấy tờ thế chấp tài sản.

2. Về án phí: bà H và ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 43.568.510 đồng.

Agribank Chi nhánh L được nhận lại số tiền 20.790.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai AA/20160012774 ngày 23/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ