- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn M vi phạm giao thông - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội: “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 21/2018/HSST Ngày: 07-02-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Anh.
2. Ông Nguyễn Văn Quỹ
-Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa công khai ngày 07-02-2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 02/2018/TLST-HS, ngày 17-01-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-HS ngày 26-01-2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn M, sinh năm 1968.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn K T, xã N T, huyện N T, tỉnh Nam Định.
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: không.
Nghề nghiệp: Lái xe
Văn hóa: 11/12
Con ông: Trần Văn Đ (đã chết).
Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1930.
Gia đình có 7 anh chị em, bị can là con thứ năm.
Vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1972. Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2017 sau đó chuyển tạm giam đến ngày 11/12/2017. Hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Nam Định áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Ông Phạm Văn M (đã chết)
Những người đại diện theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn M đã có văn bản ủy quyền cho chị Phạm Thị Thúy, sinh năm 1982, trú tại : xóm Tiền Lang, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Chị Thúy vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn M (có giấy phép lái xe hạng A1, E) hợp đồng lái xe thuê cho Công ty cổ phần vận tải Nam Trực; địa chỉ: xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Mậu được công ty giao lái xe ô tô chở khách BKS 18B – 018.01 chạy tuyến cố định Nam Định – Quảng Ninh.
Khoảng 11 giờ 15’ ngày 21-11-2017, Mậu điều khiển xe ô tô chở khách BKS 18B – 018.01, loại 29 chỗ từ bến xe Cửa Ông, tỉnh Quảng Ninh về huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, trên xe lúc này có anh Vũ Văn Hải, sinh năm 1993; trú tại: thôn Mộng Lương, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định là phụ xe ngồi ở ghế phụ và một số hành khách trên xe (không xác định được tên tuổi, địa chỉ). Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, M điều khiển xe ô tô đi đến khu vực đường QL 21B thuộc xã Nam Phong, TP. Nam Định theo hướng từ TP. Nam Định về đường Lê Đức Thọ trong điều kiện mặt đường trải nhựa bằng phẳng, có dải phân cách cứng ở giữa để chia thành hai chiều đường riêng biệt, tầm nhìn không bị hạn chế. M điều khiển xe ô tô đi ở chiều đường bên phải theo chiều đi của M với tốc độ khoảng 56 – 59,9km/h. Khi đi đến khu vực ngã tư QL 21B + đường trục liên xã vào ủy ban nhân dân xã Nam Phong, xã Nam Phong, TP. Nam Định (ngã tư không có đèn tín hiệu), M không chú ý quan sát người và phương tiện tham gia giao thông đi từ trái sang phải theo chiều đi của M và không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn - Vì vậy, M không quan sát thấy ông Phạm Văn M điều khiển xe mô tô BKS18 H2 - 4710 đi hết 2/3 ngã tư giao nhau theo hướng từ trái sang phải theo chiều đi của Mậu về đường Đặng Xuân Bảng. Khi ông M đã đi đến ngay phía trước đầu xe của M, M mới phát hiện ra và đạp phanh xe, nhưng do khoảng cách hai xe quá gần nên phần đầu chắn đà phía trước bên trái của xe ô tô đã xô vào phần bên phải của bánh xe trước của xe mô tô làm ông M và xe ngã, đổ rê trên mặt đường khoảng 20 m về phía trước. Hậu quả: ông M tử vong ngay tại hiện trường.
Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Nam Định đã chủ trì tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo quy định của pháp luật và trưng cầu giám định tốc độ của xe ô tô. Kết luận giám định số 953/KTHS ngày 01-12-2017 của Phòng KTHS – Công an tỉnh Nam Định kết luận: vận tốc của xe ô tô BKS18B1 – 01801 ngay trước khi để lại hai vết phanh trên mặt đường là từ 56 km/h đến 59, 9 km/h.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 72/17/TT ngày 23-11-2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Phạm Văn M là đa chấn thương:
- Chấn thương cổ: Gãy vỡ đốt sống cổ C2, C3.
- Chấn thương hàm mặt: Gãy phức tạp xương hàm dưới bên phải.
- Gãy 1/3 giữa xương đùi phải.
Sau khi sự việc xảy ra, Trần Văn M đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Nam Định đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình Trần Văn M đã bồi thường cho gia đình bị hại Phạm Văn M số tiền là 120.000.000 đồng. Gia đình bị hại nhất trí với phần bồi thường trên và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Mậu.
Cáo trạng số 15/QĐ-KSĐT, ngày 15-01-2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “ Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX)
- Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1; khoản 2 Điều 46; Điều 60 BLHS năm 1999;
Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng. (Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-11-2017 đến ngày 11-12-2017)
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo cải tạo tại địa phương, lao động và nuôi dạy con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo xác định như sau: Khoảng 16 giờ ngày 21-11-2017, tại khu vực ngã tư QL 21B + đường trục liên xã vào ủy ban nhân dân xã Nam Phong, xã Nam Phong, TP. Nam Định, trong khi điều khiển xe ô tô BKS 18B – 018.01 đi vào khu vực ngã tư, Trần Văn M có giấy phép lái xe theo qui định nhưng đã không chú ý quan sát và không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn - Vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31-12-2015 của Bộ giao thông vận tải – Vì vậy xe ô tô do M điều khiển đã xô vào xe mô tô BKS 18H2 - 4710 do ông Phạm Văn M điều khiển, làm ông M bị đa chấn thương và tử vong ngay.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố.
Về tình tiết giảm nhẹ: tại CQĐT cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận với đại diện gia đình người bị hại bồi thường toàn bộ thiệt hại, đại diện gia đình bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. HĐXX áp dụng điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng. Sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại.Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định và đại diện người bị hại đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Vì vây, HĐXX đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, quyết định áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, có sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú nhằm trừng trị, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận với đại diện gia đình người bị hại bồi thường toàn bộ thiệt hại. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì khác, HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với chiếc xe ô tô BKS 18B – 018.01 được xác định thuộc sở hữu của Công ty cổ phần vận tải Nam Trực. Công ty cổ phần vận tải Nam Trực thuê M lái xe có giấy phép lái xe theo quy định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Nam Định không đặt vấn đề xử lý và trả lại xe ô tô trên cho Công ty cổ phần vận tải Nam Trực.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 18H2 – 4710 được xác định thuộc sở hữu hợp pháp của chị Phạm Thị T, sinh năm 1982; trú tại: xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (là con ông M) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Nam Định đã trả lại xe trên cho chị T.
Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội: “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 BLHS năm 1999;
Xử phạt bị cáo Trần Văn M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2017 đến ngày 11/12/2017.
Giao Trần Văn M cho Uỷ ban nhân dân xã Nam Thái, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự.
2. Án phí:
Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của người bị hại, người được ủy quyền được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND TP Nam Định; - Chi cục THADSTP Nam Định; - UBND xã Nam Thái; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ./. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Anh Tuấn |