- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đình S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HSST Ngày: 17 - 4 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Đào Thị Thu Phương. 2.Ông Vũ Tiến Lưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện VKS nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2018/HSST ngày 16 tháng 03 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 21/2018/QĐXXST – HS ngày 04 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Đình S, sinh ngày 29/8/2000; nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 09/12; bố đẻ: Ông Phạm Đình Đ, sinh năm 1974; mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Gia đình có 03 anh em bị cáo là con thứ nhất;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2018 đến ngày 19/01/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo Phạm Đình S có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện của bị cáo:
Ông Phạm Đình D, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện N tỉnh Nam Định là bố đẻ của Phạm Đình S ( có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Ngọc V, Luật sư Văn phòng luật sư V & M thuộc Đoàn luật sư tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 15/01/2018, Phạm Đình S điều khiển xe mô tô từ nhà đến khu vực cầu Đò Quan, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định với mục đích mua ma túy tổng hợp về sử dụng cho bản thân và đi lấy bánh sinh nhật cho người bạn khác. Khi đến nơi S gặp một người đàn ông ( không rõ lai lịch) hỏi mua 800.000đ ma túy tổng hợp. S đưa cho người đàn ông 800.000đ, người đàn ông nhận tiền đưa cho S 04 viên ma túy tổng hợp màu hồng, đựng trong túi nilon màu trắng. S giấu ma túy vào trong vỏ bao thuốc lá hiệu Thăng Long, bỏ vào túi áo ngực rồi đi lấy bánh sinh nhật và về nhà. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, S cùng bạn rủ nhau đi Taxi đến khu vực thôn Chiền, xã Nam Dương, huyện Nam Trực để thuê phòng hát Karaoke. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S cùng nhóm bạn đang đứng chờ trước quán ở số nhà 158 đường 490C, thuộc thôn Chiền, xã Nam Dương, thì công an huyện Nam Trực, kiểm tra phát hiện bắt quả tang S đang cất giấu 04 viên ma túy tổng hợp trong túi áo ngực.
Cơ quan CSĐT công an huyện Nam Trực thu giữ vật chứng: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng long, bên trong là túi nilon màu trắng đựng 04 viên nén, dạng thể rắn màu hồng; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; số tiền 220.000 đ.
Tại bản kết luận giám định số 64/GĐKTHS ngày 17/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu viên nén màu hồng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy, loại chất ma túy MDMA, tổng khối lượng M là 1,406 gam.
Bị cáo Phạm Đình S bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, truy tố tại bản cáo trạng số 19/CT - VKS ngày 14 tháng 3 năm 2018 và tại phiên Tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đình S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình S với mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy MDMA hoàn lại sau giám định. Hoàn trả lại cho bị cáo Phạm Đình S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và số tiền 220.000đ.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến: Bị cáo Phạm Đình S thành khẩn khai báo, khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 6 Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm hình phạt cho bị cáo theo mức thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị.
Đại diện của bị cáo Phạm Đình S trình bày ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như bản cáo trạng đã nêu, không có ý kiến bổ sung gì đối với ý kiến của người bào chữa và ý kiến tranh luận về bản cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa.
Bị cáo Phạm Đình S nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo Phạm Đình S tại cơ quan CSĐT và tại phiên Tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15 tháng 01 năm 2018, bản kết luận giám định số 64/GĐKTHS ngày 17/01/2018 của Phòng KTHS - Công an tỉnh Nam Định và lời khai của người làm chứng. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 15/01/2018, tại quán karaoke thuộc thôn Chiền, xã Nam Dương, Công an huyện Nam Trực bắt quả tang Phạm Đình S đang cất giấu trong người 04 viên ma túy MDMA, có khối lượng là 1,406 gam.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự tại địa phương và sự phát triển chung của xã hội, là nguyên nhân phát sinh hàng loạt tội phạm khác do vậy việc đưa bị cáo ra xét xử để trừng trị, giáo dục phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này là cần thiết.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Đình S không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo, rèn luyện bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo là chưa đủ 18 tuổi, nên được áp dụng các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên để xem xét quyết định hình phạt.
Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy tổng hợp MDMA hoàn lại sau giám định, nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và số tiền 220.000đ là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên hoàn trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Phạm Đình S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đình S phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình S 14 ( mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 16/01/2018 đến ngày 19/01/2018.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy MDMA có trong 01 phong bì thư số 64/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định hoàn trả lại sau giám định.
Hoàn trả lại cho bị cáo Phạm Đình S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và số tiền 220.000đ ( hai trăm hai mươi nghìn đồng), nhưng tiếp tục giữ lại số tiền trên để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng hồi 09 giờ ngày 15/3/2018 và biên lai thu tiền số 04537 ngày 15/3/2018 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Đình S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Đình S, người bào chữa và người đại diện của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi gửi:
| - Toà án nhân dân tỉnh; - VKS nhân dân huyện Nam Trực; - Công an huyện Nam Trực; - Chi cục THA dân sự H. Nam Trực; - Bị cáo Phạm Đình S; - UBND xã Đ, H. N. - Thi hành án phạt tù; - Lưu hồ sơ . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thịnh |