- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị S phạm tội tổ chức đánh bạc và Nguyễn Nhựt phạm tội đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HS-ST Ngày 20/6/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đình Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thư.
- Bà Nguyễn Thị Xuân.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mùi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành. Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 16/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Huỳnh Thị S; Sinh ngày 04 tháng 9 năm 1976 tại: Xã Tam X, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. HKTT+ chỗ ở: Thôn Bà B, xã Tam X, huyện Núi Th, Quảng Nam.
Con ông: Huỳnh S (sinh năm 1940) và bà Đoàn Thị Th (sinh năm 1940) đều trú tại thôn Bà B, xã Tam X, huyện Núi Th, Quảng Nam. Gia đình có bảy anh chị em, bị cáo là con thứ năm. Hiện bị cáo chưa có chồng con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Nh (Tên gọi khác: Nguyễn Văn Nh). Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1970 tại: Xã Tam Anh B, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Công nhân. HKTT + chỗ ở: Thôn Đức B, xã Tam Anh B, huyện Núi Th, Quảng Nam.
Con ông: Nguyễn Nh và bà Võ Thị T đều trú tại thôn Đức B, xã Tam Anh B, huyện Núi Th, Quảng Nam. Gia đình có 06 con, bị cáo là con đầu.
Vợ: Nguyễn Thị Ung Th (sinh năm 1970), trú thôn Đức B, xã Tam Anh B, Núi Th, Quảng Nam. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1998.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Trần Ngọc H, sinh năm: 1985, trú tại: thôn Thanh L, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt tại phiên tòa..
+ Mai Văn Tr, sinh năm: 1987, trú tại thôn Vĩnh A, xã Tam Xu, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 10/10/2017, Huỳnh Thị S đang tổ chức bán số đề trái phép cho Trần Ngọc H; sinh năm: 1985; trú thôn Thanh L, xã Tam H, Núi Th, tại quán cà phê của mình thuộc thôn Bà B, xã Tam X, Núi Th thì bị Công an huyện Núi Thành phát hiện và lập biên bản.
Vật chứng thu giữ:
- Số tiền: 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), đây là tiền S đang thu tiền mua đề của Trần Ngọc H.
- Số tiền: 7.543.000 đồng (bảy triệu năm trăm bốn mươi ba ngàn đồng), Huỳnh Thị S bỏ trong túi quần, trong đó số tiền này có 400.000 đồng S thu tiền mua đề của Trần Ngọc H trước.
- Số tiền 51.360.000 đồng (năm mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng) được bỏ trong túi sách của bà Huỳnh Thị S.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen gắn sim số thuê bao 0915877428, model TA-1034 của Huỳnh Thị S đã qua sử dụng, được S sử dụng để mua bán số đề.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen gắn sim số thuê bao 0984220077, model RM-1035 của Trần Ngọc H đã qua sử dụng, được H sử dụng để mua đề của S.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh gắn sim số thuê bao 0976377312, của Nguyễn Nh (tên gọi khác Nguyễn Văn Nh) đã qua sử dụng, được Nh sử dụng để mua đề của S.
Cách thức S và các đối tượng khác chơi số đề như sau: Bao lô là đánh hai số cuối kết quả tất cả dãy số của các giải, đầu là đánh theo giải tám, đuôi là đánh hai hoặc ba số cuối giải đặc biệt, bốn góc lấy số đầu giải tám ghép với số cuối giải đặc biệt, xiên lấy số cuối của bất kỳ hai giải. Kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết truyền thống các tỉnh KonTum, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Quảng Nam, Đăklăk có 18 dãy số của các giải từ giải tám đến giải đặc biệt, riêng kết quả Miền Bắc có 27 dãy số. S cũng quy định cách mua và tính tiền thưởng là người chơi chọn số cần mua cho kết quả xổ số trong ngày của tỉnh mở thưởng, rồi nhắn tin cho S. S nhận được tin nhắn nếu đồng ý thì S nhắn tin lại cho người mua "ok", sau đó thì giao nhận tiền. Nếu người chơi trúng thưởng hai số thì S lấy số tiền mua nhân 70 (bảy mươi). Người chơi mua ba số đuôi nếu trúng thưởng thì được nhân 500 (năm trăm). Ngoài ra S còn khuyến mãi hoa hồng bằng cách người trúng thưởng được nhân tiền trúng thưởng thêm 30%.
Quá trình điều tra xác định, S dùng điện thoại di động gắn sim số thuê bao 0915877428 bán số đề dưới hình thức ghi qua tin nhắn điện thoại cho Nguyễn Nh có số thuê bao 0976377312; Mai Văn Tr (1987) trú thôn Vĩnh A, xã Tam X, Núi Th, có số thuê bao 0905407131; Trần Ngọc H, có số thuê bao 0984220077, cụ thể như sau:
* Đối với Nguyễn Nh gửi tin nhắn đến số thuê bao của S có tên lưu “BânThuy”:
- Ngày 08/10/2017, Nh nhắn 02 tin mua số đề của S, trong đó 01 tin mua chung hai kết quả xổ số kiến thiết truyền thống tỉnh KonTum và tỉnh Khánh Hòa; 01 tin mua kết quả xổ số kiến thiết truyền thống Miền Bắc (Thủ Đô):
+ Mua kết quả xổ số đài KonTum: Mua bao lô số 81, 82; mua bốn góc số 81; mua đuôi đặc biệt số 181; mua đầu số 96, 43 với số tiền 1.550.000 đồng (một triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
+ Mua kết quả xổ số đài Khánh Hòa: Mua bao lô số: 81, 52, 82; mua bốn góc số: 81; mua đuôi đặc biệt số: 181; mua đầu số: 96, 43 với số tiền 2.550.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).
+ Mua kết quả xổ số đài Miền Bắc: Mua bao lô số: 81,19; mua đầu số: 81; mua đuôi số: 81,09; mua đuôi đặc biệt số: 181 với số tiền: 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm ngàn đồng).
Đã có kết quả mở thưởng, Nh không trúng nên S thu số tiền của Nh trong ngày là: 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng), số tiền này Nh đã đưa cho Sương.
- Ngày 09/10/2017, Nh nhắn 07 tin, trong đó 5 tin mua đề, 02 tin nhắn tính tiền. Trong 5 tin nhắn mua đề có 02 tin mua chung hai kết quả xổ số đài tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Phú Yên; 03 tin nhắn mua kết quả xổ số kiến thiết truyền thống Miền Bắc (Thủ Đô):
+ Mua kết quả xổ số đài Thừa Thiên Huế: Mua bao lô số: 81; mua bốn góc số: 81; mua đuôi đặc biệt số: 181; mua đầu các số: 09,23,46,47,48,49, 75; mua đuôi số: 09 với số tiền: 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm ngàn đồng).
+ Mua kết quả xổ số đài Phú Yên: Mua bao lô số: 81; mua bốn góc số: 81; mua đuôi đặc biệt số: 181; mua đầu các số: 09,23,46,47,48,49; mua đuôi số: 09 với số tiền: 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng).
+ Mua kết quả xổ số đài Miền Bắc: Mua bao lô số: 81; mua đầu số: 81,23,43; mua đuôi số: 81,09; mua đuôi đặc biệt số: 181,019, mua xiên số: 23,43 với số tiền: 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng).
Tổng số tiền nh mua trong ngày này là 7.400.000 đồng (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
Đã có kết quả xổ số, Nh trúng con số 81 của kết quả xổ số đài Thừa Thiên Huế với tiền bỏ ra mua là 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và được S tính tiền thưởng lấy số tiền mua chia 18 nhân 70 và cộng thêm khuyến mãi 30% làm tròn tiền được: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), lần này S thấy Nh mua số tiền lớn nên cho Nh thêm 1.000.000 đồng (một triệu đồng), lần này giữa Nh và S chưa tính toán tiền thắng thua nên Nh chưa trả tiền mua đề cho S và S chưa trả tiền thắng đề cho Nh. Như vậy, tổng số tiền Nh bỏ ra bao lô con số 81 của kết quả xổ số đài Thừa Thiên Huế là 1.000.000 đồng, cộng với số tiền Nh được nhận thực tế từ S là 6.000.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc lần này của Nh là 13.400.000 đồng (mười ba triệu bốn trăm nghìn đồng).
Sau khi trừ số tiền trúng thưởng cho Nh, thì Nh còn thiếu S số tiền mua đề là: 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng), nhưng S chưa thu tiền.
- Ngày 10/10/2017 Nh nhắn 02 tin mua đề của S, trong đó 01 tin mua chung hai kết quả xổ số kiến thiết truyền thống tỉnh Quảng Nam, tỉnh Đăklăk; 01 tin mua theo kết quả xổ số kiến thiết truyền thống Miền Bắc (Thủ Đô):
+ Mua kết quả xổ số đài Quảng Nam: Mua bao lô số: 81; mua bốn góc số: 81, mua đuôi số: 81 với số tiền: 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
+ Mua kết quả xổ số đài Đăklăk: Mua bao lô số: 81; mua bốn góc số: 81; mua đuôi số: 81 với số tiền: 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
+ Mua kết quả xổ số đà Miền Bắc: Mua bao lô số: 81; mua đầu số: 81; mua đuôi số: 81; mua đuôi đặc biệt số: 181, mua xiên số: 32, 23,59 với số tiền 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
Tổng số tiền Nh đánh bạc trong ngày này là 6.200.000 đồng (sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, hành vi đánh bạc của Nguyễn Nh trong ngày này xảy ra sau khi Công an huyện Núi Thành phát hiện và lập biên bản đối với Huỳnh Thị S.
* Đối với Mai Văn Tr: Ngày 08/10/2017, Trường nhắn 01 tin mua đề của S theo kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết đài Miền Bắc (Thủ Đô), mua bao lô số 21 với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). Đã có kết quả mở thưởng nhưng Tr không trúng, nên S thu tiền của Tr được 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng).
* Đối với Trần Ngọc H: Ngày 10/10/2017, H nhắn tin đến số điện thoại của S mua con số 01 giải tám của hai đài xổ số kiến thiết đài Quảng Nam và Đăk Lăk với số tiền 100.000 đồng và con số 96,22 với số tiền 400.000 đồng thị bị Công an huyện Núi Thành phát hiện và lập biên bản.
S thu tiền mua đề của Nh trong ngày 08/10/2017 là 8.800.000 đồng, thu của Mai Văn Tr trong ngày 08/10/2017 là 500.000 đồng; ngày 09/10/2017, Nh mua đề của S với số tiền 7.400.000 đồng. Sau đó, S dùng số thuê bao của mình 0915877428 để gọi và nhắn tin với nội dung chuyển tiền đến số thuê bao 01628762258 để chuyển toàn bộ số tiền trên và được hưởng tiền hoa hồng 05% trên tổng số tiền mua đề của các đối tượng đánh bạc là 1.205.000 đồng (một triệu hai trăm lẽ năm nghìn đồng). Đối với số tiền mua đề của H trong ngày 10/10/2017 là 500.000 đồng đã bị Công an huyện Núi Thành thu giữ trên người của S khi phát hiện và lập biên bản.
Tại bản cáo trạng số: 18/QĐ-VS-NT ngày 10/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị S về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; bị cáo Nguyễn Nh về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Thị S về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; bị cáo Nguyễn Nh về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự luật năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Thị S từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) về tội tổ chức đánh bạc; Áp dụng theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội; Điều 35; các điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Nh từ 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) đến 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) về tội đánh bạc.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/10/2017 đến ngày 10/10/2017, Huỳnh Thị S đã sử dụng điện thoại di động phục vụ cho việc bán số đề trái phép cho các đối tượng đến mua số đề trái phép với tổng số tiền 17.200.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm ngàn đồng), cụ thể: Bán số đề cho Nguyễn Nh số tiền là 16.200.000 đồng; bán cho Mai Văn Tr số tiền 500.000 đồng; bán cho Trần Ngọc H số tiền 500.000 đồng. Qua đó, S thu lợi bất chính số tiền 1.205.000 đồng (một triệu hai trăm lẽ năm nghìn đồng). Đối với bị cáo Nguyễn Nh: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/10/2017 đến ngày 09/10/2017, Nh đã mua số đề trái phép của Huỳnh Thị S với tổng số tiền 16.200.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm nghìn đồng). Trong đó, các lần Nh đánh bạc cụ thể như sau: Ngày 08/10/2017, Nh mua đề của S với tổng số tiền 8.800.000 đồng (tám triệu tám trăm nghìn đồng); ngày 09/10/2017, Nh mua đề của S với tổng số tiền 7.400.000 đồng (bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo với các tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án thấy phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận cáo trạng số: 18/QĐ-VS-NT ngày 10/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị S về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; bị cáo Nguyễn Nh về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự luật năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Việc đánh bạc bằng bất kỳ hình thức nào với mục đích ăn thua bằng tiền mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép là hành vi vi phạm pháp luật cần được nghiêm trị. Các bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vì ham chơi muốn kiếm tiền không phải bằng sức lao động nên các bị cáo bất chấp pháp luật. Do vậy cần có mức án nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện.
Xét về vai trò, trách nhiệm của các bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo S là người tổ chức thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo Nh là người chơi. Do vậy bị cáo S phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Nh.
Xét về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội các bị cáo biết ăn năn, hối cải, khai báo thành khẩn. Các bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Các bị cáo đã đầu thú hành vi phạm tội của mình. Riêng bị cáo Nh phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử thống nhất theo quan điểm của Viện Kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và nên miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho các bị cáo là phù hợp với tính nhân đạo pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Đối với Trần Ngọc H, Mai Văn Tr là hai đối tượng có hành vi mua đề của Huỳnh Thị S nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Núi Thành xử phạt hành chính đối với Trần Ngọc H, Mai Văn Tr là thỏa đáng.
Đối với Võ Thị L khai nhận vào tháng 9/2017, L có mua đề của S 02 lần, lần thứ nhất mua với số tiền 100.000 đồng, lần thứ hai mua với số tiền 50.000 đồng. Tuy nhiên, L không nhớ rõ ngày, số mua và mua kết quả xổ số của đài nào nên chưa đủ cơ sở để xử phạt hành chính. Vì vậy,Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành tách ra xử lý sau.
Đối với chủ thuê bao 01628762258, quá trình điều tra xác định tên là Nguyễn Văn A; sinh ngày 09/11/1991; trú tại phường An Ph, thành phố Tam, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định A không có mặt tại địa phương và đi làm ăn xa không biết rõ địa chỉ cụ thể nên không thể triệu tập làm việc được. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành tách ra xử lý sau.
* Về xử lý vật chứng:
- Số tiền: 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), đây là tiền bị cáo S đang thu tiền mua đề của Trần Ngọc H nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Số tiền: 7.543.000 đồng (bảy triệu năm trăm bốn mươi ba ngàn đồng), Huỳnh Thị S bỏ trong túi quần, trong đó số tiền này có 400.000 đồng S thu tiền mua đề của Trần Ngọc H nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng. Tuyên trả số tiền 7.143.000 đồng lại cho bị cáo S (số tiền này không liên quan đến việc bị cáo S thu tiền mua đề nên trả lại cho bị cáo S).
(Tất cả các số tiền này hiện đang tạm gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Núi Thành tại tài khoản số: 3949.0.9042536.00000 của công an huyện Núi Thành của giấy nộp tiền ngày 13/10/2017).
- Số tiền 51.360.000 đồng (năm mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng) được bỏ trong túi xách của bà Huỳnh Thị S. Số tiền này cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành đã xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen gắn sim số thuê bao 0915877428, model TA-1034 của Huỳnh Thị S đã qua sử dụng, được S sử dụng để mua bán số đề.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen gắn sim số thuê bao 0984220077, model RM-1035 của Trần Ngọc H đã qua sử dụng, được H sử dụng để mua đề của Sương.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh gắn sim số thuê bao 0976377312, của Nguyễn Nh (tên gọi khác Nguyễn Văn Nh) đã qua sử dụng, được Nh sử dụng để mua đề của S.
( Các vật chứng này hiện đang tạm giữ tại cơ quan thi hành án huyện Núi Thành)
- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 16.700.000 đồng ( mười sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) bị cáo S thu tiền mua đề và số tiền 1.205.000 đồng bị cáo S thu lợi bất chính từ việc bị cáo tổ chức đánh bạc.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội; Điều 35; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Thị S phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị S 20.000.000 đồng ( Hai mươi triệu đồng).
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội; Điều 35; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Nh (Tên gọi khác: Nguyễn Văn Nh) phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Nh 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
* Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- Số tiền: 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), đây là tiền bị cáo S đang thu tiền mua đề của Trần Ngọc H.
- Số tiền 400.000 đồng bị cáo S thu tiền mua đề của Trần Ngọc H trong số tiền 7.543.000 đồng (bảy triệu năm trăm bốn mươi ba ngàn đồng) bị cáo Huỳnh Thị S bỏ trong túi quần.
- Tuyên trả số tiền 7.143.000 đồng cho bị cáo Huỳnh Thị S (số tiền này không liên quan đến việc bị cáo S thu tiền mua đề nên trả lại cho bị cáo S.
(Tất cả số tiền này hiện đang tạm gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Núi Thành tại tài khoản số: 3949.0.9042536.00000 của công an huyện Núi Thành của giấy nộp tiền ngày 13/10/2017)
* Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen gắn sim số thuê bao 0915877428, model TA-1034 của Huỳnh Thị S đã qua sử dụng, được Sương sử dụng để mua bán số đề.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen gắn sim số thuê bao 0984220077, model RM-1035 của Trần Ngọc H đã qua sử dụng, được H sử dụng để mua đề của S.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh gắn sim số thuê bao 0976377312, của Nguyễn Nh(tên gọi khác Nguyễn Văn Nh) đã qua sử dụng, được Nh sử dụng để mua đề của S.
( Các vật chứng này hiện đang tạm giữ tại cơ quan thi hành án huyện Núi Thành).
- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 16.700.000 đồng ( mười sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) bị cáo S thu tiền mua đề và số tiền 1.205.000 đồng (một triệu hai trăm không năm nghìn đồng) bị cáo S thu lợi bất chính từ việc bị cáo tổ chức đánh bạc.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội; Bị cáo Huỳnh Thị S và Nguyễn Nh mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
(Đã ký)
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Bùi Đình Dũng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Ánh Khôi Nguyễn Văn Thư
Bùi Đình Dũng Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Bùi Đình Dũng
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 138, các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ quốc hội;
Tuyên bố bị cáo Lương Hải Dũng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Lương Hải Dũng 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 02 tháng 10 năm 2017.
Về án phí: bị cáo Hà Văn Tiến phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Bùi Đình Dũng
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Dũng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lương Hải Dũng từ ..04 đến 05 năm tù. Về tang vật tạm giữ:
Tại phiên Tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 03/01/2018, tại nhà ông Lương Ngọc Trước thuộc thôn Hòa An, xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Lương Hải Dũng đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng của ông Lương Ngọc Trước.
Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, thấy rằng: Methamphetamin là loại chất gây nghiện nằm trong danh mục các chất ma túy bị pháp luật Nhà nước ta cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán. Tệ nạn ma túy là một trong những thảm họa đối với con người và cộng đồng xã hội, gây nhiều tác động tiêu cực đến đời sống, hủy hoại sức khỏe, phẩm giá của con người, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta đang tập trung mọi cách để ngăn chặn và đẩy lùi loại tệ nạn này. Bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ là người trưởng thành, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, bị cáo nhận thức được sự nguy hiểm và những hậu quả nghiêm trọng mà ma túy gây ra, tuy nhiên vì ham lợi và muốn có ma túy để sử dụng mà bị cáo đã bất chấp dẫn đến phạm tội và phạm tội nhiều lần. Hành vi đó của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng trật tự trị an trong địa phương. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khai nhận toàn bộ các lần phạm tội trước đó. Bị cáo có bà ngoại là bà Dương Thị Hạnh có công trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ được tặng huy chương, bằng khen. Do vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định là phù hợp.
Bị cáo Vũ không có nghề nghiệp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về vật chứng:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE ( chưa kiểm tra chất lượng bên trong) có gắn 02(hai) thẻ sim mang số thuê bao 01666227600 và 01678609046 của bị cáo Vũ dùng làm phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Tang vật không dùng vào việc phạm tội cần trả lại gồm: Bùi Văn Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã bị nứt màn hình cảm ứng, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0968490239; Nguyễn Cường 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01665513036; Võ Thái Bình Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01677750884.
- 01(một) chai nước bằng nhựa có dòng chữ VINALAND, phía trên nắp chai có cắm ống hút màu trắng – tím bằng nhựa được phát hiện tại dưới nền phòng số 5 nhà nghĩ Duy Ninh liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2017.
- Đối với 01 mãnh giấy trắng (card điện thoại), trên giấy có chữ VIETTEL, mệnh giá 100.000 đồng, mã nạp: 605481954780 và 01 mãnh giấy trắng trên giấy có ghi 04 mã số card điện thoai VIETTEL mỗi mã số thẻ mệnh giá 50.000đồng của Võ Thái Bình Dương giao nộp cần tiếp tục thu giữ lưu hồ sơ vụ án.
Số tiền bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ thu được từ việc mua bán trái phép chất ma túy gồm: bán cho Võ Thái Bình Dương 02 lần: lần 1 số tiền 300.000đồng, lần 02 số tiền 300.000đồng được quy đổi bằng hình thức card điện thoại trong đó có 01 card điện thoại trị giá 100.000đồng bị cáo Vũ chưa sử dụng, hiện đang lưu hồ sơ vụ án, do vậy 02 lần bán ma túy cho Võ Thái Bình Dương bị cáo Vũ đã thu lợi được 500.000đồng; Bán cho Tạ Bảo Quốc và Đinh Ngọc Sơn 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Bán cho Lê Văn Ry và Đinh Ngọc Sơn 01 lần số tiền 100.000 đồng; bán cho Trần Tấn Thịnh và Đinh Ngọc Sơn 02 lần, mỗi lần 300.000 đồng; bán cho Lê Tuấn Vũ 03 lần, mỗi lần 300.000 đồng; bán cho Lê Công Bằng 01 lần với số tiền 300.000 đồng; bán cho Nguyễn Tấn Quang 01 lần với số tiền 200.000 đồng; Tổng cộng bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đã thu lợi bất chính là 3.000.000đồng cần phải truy thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với Võ Thái Bình Dương, Bùi Văn Dương, Nguyễn Cường, Lê Tuấn Vũ, Nguyễn Tấn Quang, Đinh Ngọc Sơn, Tạ Quốc Bảo, Trần Tấn Thịnh và Lê Văn Ry có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính là thỏa đáng.
Đối với Lê Công Bằng, Công an huyện Núi Thành lập hồ sơ vi phạm và Tòa án nhân dân huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc.
Đối với Nguyễn Công Thành là chủ nhà nghỉ Duy Ninh đã có hành vi thiếu trách nhiệm, để người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy tại khu vực mình quản lý là hành vi vi phạm hành chính nên Công an huyện Núi Thành đã lập tờ trình đề nghị Chủ tịch UBND huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Công Thành là có căn cứ.
Đối với đối tượng tên Tý ở Đà Nẵng bán ma túy đá cho Huỳnh Ngọc Vũ và 02 đối tượng đưa giúp ma túy đá cho Vũ vẫn chưa xác định được lai lịch nên không đủ cơ sở để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999;
Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ 04 ( Bốn ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, ngày 20/7/2017.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung công quỹ: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE (chưa kiểm tra chất lượng bên trong) có gắn 02(hai) thẻ sim mang số thuê bao 01666227600 và 01678609046 của bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ.
- Trả lại cho: Bùi Văn Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã bị nứt màn hình cảm ứng, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0968490239; Nguyễn Cường 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01665513036; Võ Thái Bình Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01677750884.
- Tịch thu tiêu hủy 01(một) chai nước bằng nhựa có dòng chữ VINALAND, phía trên nắp chai có cắm ống hút màu trắng – tím bằng nhựa được phát hiện tại dưới nền phòng số 5 nhà nghĩ Duy Ninh.
Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2017.
- Tiếp tục thu giữ 01 mãnh giấy trắng (card điện thoại), trên giấy có chữ VIETTEL, mệnh giá 100.000 đồng, mã nạp: 605481954780 và 01 mãnh giấy trắng trên giấy có ghi 04 mã số card điện thoai VIETTEL mỗi mã số thẻ mệnh giá 50.000đồng của Võ Thái Bình Dương giao nộp để lưu hồ sơ vụ án.
- Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ số tiền 3.000.000đồng.
* Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ quốc hội: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ phải chịu là: 200.000 đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, bộ phận HS; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Thị Long Nguyễn Thị Xuân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đinh Thị Huỳnh Lý Đinh Thị Huỳnh Lý THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Huỳnh Lý |