vanban.org

Bản án 21/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc C 15 (mười lăm) thángtù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 20.9.2017). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc C -Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HS-ST
Ngày 31-01-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Thị Chơ Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Bà Lò Lệ Thu Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2017/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2017theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

HOÀNG NGỌC C. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1962 tại huyện A2, tỉnh A3.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tiểu khu 20, thị trấn A1, huyện A2, tỉnh A3; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Ngọc Ng (đã chết) và bà: Lương Thị V, sinh năm 1929; Có vợ: Trương Thị TH, sinh năm 1966 và hai con.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 54/HSST ngày 03/8/2001 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội đánh bạc (đã được xóa án tích).

Tại bản án số 67/HSST ngày 18/8/2005 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội đánh bạc (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2017, giam tại Nhà tạm giam, tạm giữ Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20.9.2017 Tổ công tác công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu 20, thị trấn A1, huyện A2, tỉnh A3 phát hiện Hoàng Ngọc C có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu C có ma túy thì tự giác giao nộp. C lấy 01 gói được gói bằng vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Gem, bên trong có 01 gói được gói bằng mảnh giấy nilon màu xanh chứa chất bột màu trắng nghi là Heroin để ở đầu giường phòng ngủ của C ra giao nộp. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Kết quả điều tra xác định:

Đầu tháng 9.2017 Hoàng Ngọc C đến Bệnh viện Quân y 6, tỉnh Sơn La để chăm mẹ ốm. Ngày 15.9.2017 tại cổng bệnh viện C gặp 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi không quen biết. C hỏi mua 200.000VNĐ Heroin và đưa tiền, người đàn ông cầm tiền và đưa cho C 01 gói được gói bằng giấy trắng, C kiểm tra xác định đúng là Heroin thì gói lại giấu vào túi quần bên phải. Đến ngày 16.9.2017 C đi xe buýt về nhà lấy 01 mảnh nilon màu xanh gói số ma túy đã mua và dùng 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Gem gói lại rồi giấu ở đầu giường phòng ngủ, mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngày 20.9.2017 tổ công tác công an huyện Mai Sơn đến nhà C để yêu cầu C đi kiểm tra tình trạng nghiện ma túy, quá trình làm việc C khai nhận có giấu ma túy ở đầu giường phòng ngủ và tự giác lấy ma túy ra giao nộp.

Ngày 21.9.2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định trọng lượng, trích rút mẫu giám định vật chứng thu giữ của Hoàng Ngọc C. Kết quả cân tịnh: Chất bột nén màu trắng nghi là Heroin có trọng lượng là 0,149gam, trích rút toàn bộ làm mẫu giám định, ký hiệu M.

Ngày 21.9.2017 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ra quyết định trưng cầu giám định số 201 trưng cầu Phòng PC54-Công an tỉnh Sơn La giám định loại ma túy, trọng lượng chất ma túy.

Ngày 25.9.2017 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 897/KLMT kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M là chất ma túy, loại chất Heroin; Trọng lượng mẫu gửi giám định là 0,149gam.

Tại phiên toà bị cáo Hoàng Ngọc C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 02/KSĐT-MT ngày 21.12.2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc Hội:

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc C từ 15 đến 20 tháng tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,13gam Heroin còn lại sau khi trừ trích rút làm mẫu giám định (đã đươc niêm phong); 01 phong bì chứa vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo Hoàng Ngọc C tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Ngọc C khai nhận vào ngày 15.9.2017 bị cáo đã mua 200.000VNĐ được một gói Heroin có trọng lượng 0,149gam nhằm mục đích sử dụng vì bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy. Ngày 20.9.2017 bị cáo đã bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Như vậy, với việc tàng trữ 0,149gam Heroin mục đích để sử dụng đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hoàng Ngọc C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 02/KSĐT-MT ngày 21.12.2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, khi xem xét áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội tại điểm b khoản 1; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017 của Quốc Hội; khoản 3 điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt tù từ 01 đến 05 năm, như vậy quy định này nhẹ hơn khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng theo hướng có lợi cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, bị cáo đã phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy chưa qua cai nghiện bắt buộc. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử về hành vi đánh bạc, đã được xóa án tích nhưng chứng tỏ bị cáo chưa có ý thức tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào vì tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung:Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt quả tang bị cáo vật chứng gồm: 01 gói ma túy có trọng lượng 0,149gam Heroin đã trích rút toàn bộ làm mẫu giám định, vật chứng sau giám định còn lại là 0,13gam Heroin. Xét thấy đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 phong bì chứa bao bì niêm phong tang vật ban đầu không phải là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán Heroin cho bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không biết tên, địa chỉ của người này, việc mua bán không ai biết, chứng kiến nên không có cơ sở để mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b khoản 1; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20.6.2017của Quốc Hội:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc C 15 (mười lăm) thángtù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 20.9.2017).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,13gam Heroin còn lại sau khi trừ trích rút làm mẫu giám định (đã đươc niêm phong); 01 phong bì chứa vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ(Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 31.01.2018)./.

Cỡ chữ