- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Mạc Thanh N mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mạc Thanh N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HS-ST Ngày: 28-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nông Công Hưng Các hội thẩm nhân dân: Ông Bế Kim Phong
Ông Đàm Văn Dần
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo: Mạc Thanh N; sinh ngày 01 tháng 6 năm 1991 tại xã M, huyện N, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm G, xã M, huyện N, Cao Bằng. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Thanh T và bà Hà Thị N; có vợ Phạm Thị Quỳnh N và có 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 13/02/2018 bị Công an huyện Hòa An, Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67/QĐ-XPHC vì hành vi vận chuyển pháo hoa trái phép. Về nhân thân: Ngày 26/5/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội ‘‘Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 06/4/2018; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Mạc Thanh T; sinh năm 1969 Nơi cư trú: Xóm G, xã M, huyện N, Cao Bằng; Vắng mặt
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
+ Anh Nông Văn S; sinh năm 1986 Nơi cư trú: Xóm P, xã S, huyện H, Cao Bằng; Vắng mặt
+ Anh Lưu Văn S1; sinh năm 1983 Nơi cư trú: Xóm K, xã P, huyện H, Cao Bằng; Vắng mặt
+ Anh Nông Văn S2; sinh năm 1985 Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, huyện H, Cao Bằng; Vắng mặt
+ Ông Đặng Đình H; sinh năm 1971 Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện H1, Cao Bằng; Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06/4/2018, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma tuý Công an huyện Hoà An, Cao Bằng làm nhiệm vụ tại xóm B1, xã B, huyện H1, Cao Bằng thì phát hiện Mạc Thanh N (sinh năm 1991; trú tại xóm G, xã M, huyện N, Cao Bằng) đang ngồi ở quán nước của anh Bùi Đức Q, gần cổng Bệnh viện Hoà An có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi áo N đang mặc có 01 gói nhỏ heroin gói bằng giấy bạc; Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa N về trụ sở Công an huyện Hoà An để điều tra làm rõ.
Bị cáo N khai nhận bản thân là người nghiện ma tuý và đang uống thuốc cai nghiện tại Trung tâm y tế huyện Hoà An. Số ma tuý mà cơ quan Công an huyện Hoà An thu giữ là do bị cáo mua với một người đàn ông tên H1 (không rõ họ và địa chỉ) ở gần Trung tâm phòng chống bệnh xã hội tỉnh Cao Bằng thuộc N, phường S, thành phố C, Cao Bằng để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Trước khi bị bắt, có một người không biết tên và địa chỉ gọi từ số điện thoại 01293.439.108 đến điện thoại di động nhãn hiệu VERTU của bị cáo gắn 02 thẻ sim số 0972.855.415 và 01673.822.549 để hỏi mua ma tuý nên bị cáo mang theo đến ngồi ở quán nước của anh Q để chờ giao dịch mua bán nhưng chưa thực hiện được đã bị cán bộ Công an kiểm tra, bắt quả tang.
Quá trình điều tra còn xác định được trước đó bị cáo N đã 05 lần bán ma tuý cho những người nghiện khác, cụ thể:
Bán cho Nông Văn S (sinh năm 1986; trú tại xóm P, xã S, huyện H, Cao Bằng) 02 lần đều giao dịch tại quán nước của anh Bùi Đức Q gần cổng Bệnh viện đa khoa huyện Hoà An. Cụ thể, lần thứ nhất vào ngày 02/4/2018 bán 01 gói nhỏ heroine được số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); lần thứ hai vào ngày 05/4/2018 bán 01 gói nhỏ heroine được số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng);
Ngày 02/4/2018 bán cho Lưu Văn S1 (sinh năm 1983; trú tại xóm K, xã P, huyện H, Cao Bằng) tại quán nước của anh Bùi Đức Q 01 gói nhỏ heroine được số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng);
Ngày 03/4/2018 bán cho Nông Văn S2 (sinh năm 1985; trú tại xóm Đ, xã P, huyện H, Cao Bằng) tại quán nước của anh Bùi Đức Q 01 gói nhỏ heroine được số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng);
Vào lúc 7 giờ ngày 06/4/2018 bán cho Đặng Đình H (sinh năm 1971; trú tại xóm B, xã Đ, huyện H1, Cao Bằng) cũng tại quán nước của anh Bùi Đức Q 01 gói nhỏ heroine được số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng);
Ngoài gói nhỏ ma túy thu giữ trên người bị cáo, cơ quan điều tra còn thu giữ các vật chứng có liên quan gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen; 01 điện thoại di động VERTU màu vàng đen; 01 xe mô tô SUZUKI VIVA biển kiểm soát 11F3 - 7647 và số tiền 550.000đ (Năm trăm năm mươi nghìn đồng). Ngày 17/6/2018, dựa trên kết quả điều tra xác định được chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG và số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoà An đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/4/2018, cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An đã tiến hành cân xác định trọng lượng tang vật là lượng ma túy thu giữ được trong người bị cáo với trọng lượng tịnh là 0,0619 gam (Không phẩy không sáu một chín gam).
Tại Kết luận giám định số 71/GĐMT ngày 20/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận:
“Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy; Loại: Heroine”.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKSHA ngày 31/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà An, Cao Bằng đã truy tố bị cáo Mạc Thanh N về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Về việc xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU đã qua sử dụng; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); hoàn trả cho người liên quan ông Mạc Thanh T 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA biển kiểm soát 11F3 - 7647. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh cũng như mức hình phạt; tuy nhiên trong lời nói sau cùng, bị cáo có đưa ra ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và 03 người làm chứng, tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không đề nghị hoãn phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do vậy không cần thiết hoãn phiên tòa.
[3] Về hành vi của bị cáo đã thực hiện, tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo; lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, qua đó đã xác định được bị cáo Mạc Thanh N là người nghiện ma tuý. Do không có việc làm ổn định và nhằm đáp ứng nhu cầu nghiện của bản thân, bị cáo vừa mua ma tuý để sử dụng, vừa bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ ngày 02/4/2018 đến ngày 06/4/2018, tại quán nước của anh Bùi Đức Q gần khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện Hoà An, bị cáo đã 05 lần bán ma tuý cho 04 người nghiện khác. Đến ngày 06/4/2018 khi bị cáo đang ngồi chờ bán ma tuý thì bị cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ trên người 0,0619 gam Heroine.
Heroine là một dạng ma túy độc dược gây nghiện Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt và sử dụng trái phép. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An truy tố bị cáo Mạc Thanh N về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Từ những nhận định và các chứng cứ nêu trên đã có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Mạc Thanh N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
[4] Đối với hành vi bán ma túy 05 lần, cho 04 người, trong đó bán cho Nông Văn S, (sinh năm 1986; trú tại xóm P, xã S, huyện H, Cao Bằng) 02 lần thì bị cáo phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 với tình tiết định khung "Phạm tội 02 lần trở lên" và "Đối với 02 người trở lên".
[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung, do vậy cần áp dụng hình phạt cao hơn mức khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với người phạm tội danh này. Xét thấy bị cáo là người làm nông nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với những người đã mua ma túy với bị cáo gồm Nông Văn S (sinh năm 1986), Lưu Văn S1, Nông Văn S2 (sinh năm 1985) và Đặng Đình H đã bị Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với người đàn ông tên H1 bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông tên T1 hẹn mua ma túy với bị cáo trong ngày 06/4/2018, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề ra xem xét.
[7] Về việc xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy là vật chứng của vụ án đã được sử dụng toàn bộ để phục vụ công tác giám định của Cơ quan điều tra, không có lượng ma túy hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng và số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn đồng), kết quả điều tra cho thấy không liên quan đến quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã hoàn trả lại cho chủ sở hữu là chị Phạm Thị Quỳnh N theo Biên bản trả đồ vật, tài sản bị tạm giữ ngày 17/6/2018 là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét;
- Đối với số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), đây là số tiền bị cáo có được do bán ma túy mà có nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU mà bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi với những người mua ma túy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA biển kiểm soát 11F3 - 7647 đã qua sử dụng, kết quả điều tra cho thấy có liên quan đến quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, được bị cáo sử dụng để phục vụ cho việc mua bán ma túy. Tuy nhiên, chủ sở hữu chiếc xe là ông Mạc Thanh T có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử hoàn trả lại tài sản của mình và ông T cũng không biết việc mua bán ma túy của bị cáo nên cần hoàn trả lại cho chủ sở hữu là ông Mạc Thanh T là phù hợp với quy định của pháp luật;
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
1. Tuyên bố: Bị cáo Mạc Thanh N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Mạc Thanh N 08 (Tám) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt 06/4/2018.
2. Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VERTU màu vàng đen, số IMEI 1: 353800810066650, số IMEI 2 35380081006668 gắn 02 thẻ sim số 0972.855.415 và 01673.822.549;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng);
- Hoàn trả cho ông Mạc Thanh T (sinh năm 1969, trú tại: xóm G, xã M, huyện N, Cao Bằng) 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA, số máy 117233, số khung 117233 biển kiểm soát 11F3-7647, màu xanh, không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng (trong cốp xe không có gì);
Vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa An, Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2018.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án
Bị cáo Mạc Thanh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Công an huyện Hòa An; - VKSND huyện Hoà An; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Chi cục THADS Hòa An; - TAND tỉnh Cao Bằng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Công Hưng |